Nói về Thôn Ngoài, xin khởi từ ngày tòng giáo. Nguyên cả cánh đồng màu mỡ ôm lấy lũy tre làng phía Bắc và một phần phía Đông, là đất canh tác của cả 2 thôn: Thôn Ngoài và Thôn Trong. Còn Thôn Đinh thì có cánh đồng phía Nam của làng trải dài đến sát bờ đê sông Đuống. Tất nhiên cánh đồng nào cũng có tư điền và công thổ. Tư điền là của riêng từng nhà dân. Còn công điền công thổ là ruộng đất chung của làng. Công điền của 2 Thôn Ngoài và Thôn Trong nằm ở Đường Giồ, nơi những thửa ruộng được xếp vào loại Thượng đẳng điền. Do có chia thôn nên cũng phải chia công điền theo tỷ lệ dân số. Dân Thôn Ngoài ít nên nhận được phần công điền nhỏ hơn, đó cũng là lẽ thường. Nhưng càng về sau càng bị chèn ép theo cái thế “cả vú lấp miệng em”, “cá lớn nuốt cá bé” của Thôn Trong. Tức nước vỡ bờ - việc lên quan mà quan thì cứ “nắm kẻ có tóc”, chứ ai lại “nắm kẻ trọc đầu”. Cho nên việc kiện tụng cứ mãi là “kiện củ khoai”. Mà thời gian càng kéo dài thì “kẻ có tóc” càng có lợi thế. Thôn Ngoài càng lúc càng bị lép vế, đành dùng mưu trí, bám lấy các vị Cố Đạo vì ở thời điểm này, các vị ấy có rất nhiều uy thế với Chính quyền. Một thỏa thuận được giao kết: Dân Thôn Ngoài thắng kiện thì sẽ tòng giáo. Đó là thời gian Đức Giám Mục Chỉnh đang đảm nhiệm Tông Tòa Bắc Ninh. Thôn Ngoài tòng giáo từ đó (vào khoảng thập niên 80 thế kỷ XVIII). Người Thầy tiên khởi được cử về dạy kinh hạt giáo lý cùng các nghi thức tế lễ Kitô Giáo là Thầy già Tín. Vì thế, sau này khi Thầy già Tín qua đời thì cả thôn đều chọn ngày 20-11 âm lịch (ngày tạ thế của Thầy) làm ngày giỗ chung, coi như giỗ Tổ vậy. Ngôi Thánh Đường đầu tiên năm gian lợp tranh được dựng lên trên khu đất rộng khoảng nửa hécta nằm gần phía Đông Thôn Ngoài, phía Bắc giáp lũy tre làng, phía Nam giáp con đường Đông Tây giữa làng. Nhà thờ làm dọc theo hướng Đông Tây, gần với đường giữa làng, hai đầu hồi trát vách đất kín, hai hướng Nam và Bắc trổ nhiều cửa phần lớn đều bằng phên tre. Về sau cũng trên nền cũ, nhà thờ được xây bằng gạch lợp ngói cũng năm gian, làm cửa gỗ suốt hai hướng Nam Bắc (cửa bức bàn), hai đầu hồi xây kín có tô những hình cửa giả. Còn làm thêm hai tảo mạc Đông Tây thành hình chữ U hướng về Nam, sát đường làng có xây tường và trổ cổng, đối diện với cổng - bên kia đường làng - xây một cái giếng khá lớn, đường kính lòng giếng khoảng 2m. Giếng sau này không dùng được vì liền với ao làng, nước bị ô nhiễm nặng. Lối kiến trúc này vẫn dựa trên nền kiến trúc cổ Đông Phương và mang phong cách VN (kiến trúc Đình) khá rõ nét. Tuy nhiên, nét hoành tráng thanh thoát của phong cách kiến trúc Tây Phương cũng đã được manh nha (nhà thờ và hai tảo mạc đều dùng tường đứng, mái phẳng và thẳng góc, chứ không dùng kiểu mái cong, tường trạm trỗ...). Đến thời Cha J.M Nguyễn Khắc Mẫn về làm chính xứ, hai tảo mạc được rỡ đi (bán cho 2 người: Ô. Trùm Đụng Nguyễn Đình Sính - và ông Xếp - Đinh Văn Khúc). Tới khoảng năm 1938, cha chính Mẫn hợp cùng dân họ xây dựng ngôi Thánh Đường theo hướng Bắc (đầu nhà thờ) Nam (cuối nhà thờ) ở chính giữa khuôn viên đất. Ngôi nhà thờ 5 gian cũ vẫn để lại làm trường học (đến đầu năm 1952 thì bị phá bỏ do chính biến, các cụ gom góp lại đem vào trùng tu ngôi nhà xứ cũng đã xuống cấp nặng nề. Ngôi nhà xứ được xây lại có ghi trên bậu cửa chính hướng Nam: “Trọng Thu Nhâm Thìn - 1952” tồn tại đến ngày nay). Thánh Đường mới được khánh thành năm 1939 mang phong cách Thánh Đường Phương Tây (La Mã), với thời điểm đó phải nói là rất uy nghi tráng lệ nổi tiếng khắp vùng. Nếu đem so với nhà thờ Cẩm Giang thì nhà thờ Dũng Vy đã cách tân hoàn toàn. Nhà thờ Cẩm Giang còn mang đậm dấu ấn cổ Đông Phương, cả bên ngoài lẫn bên trong (như bàn thờ vẫn còn sơn son thiếp vàng) thì ở Dũng Vy từ bàn thờ đến tượng Thánh đều được xây đắp, tô đúc rất đẹp. Phía Bắc, đầu nhà thờ là nhà Chung với ngôi nhà chính cũng 5 gian xây hướng Nam. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ ngôi nhà này xây theo lối cổ, chạy hiên đủ 4 mặt, trong nhà thì làm trần bằng cót và hoa văn trang trí được tượng hình bằng Dịch Số (ở giữa trần là hình âm dương, tứ phía là các chữ Càn ☰, Khảm ☵, Cấn ☶, Chấn ☳, Tốn ☴, Ly ☲, Khôn ☷, Đoài ☱ đủ bát quái tự viết đúng theo lối chữ triện của Dịch số) nhìn tổng thể thì nhà Chung + Nhà thờ + Trường học (Nhà thờ cũ) hợp thành chữ Công 工rất có ý nghĩa (xin mở ngoặc nói thêm về Cha Chính Mẫn: Ngài có bốn nghĩa tử là Công, Minh, Chính, Trực)
Wednesday, January 23, 2013
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
Thu hẹp phạm vi bài
viết này, xin nói về Thôn Ngoài - Thôn Giáo với Ngôi
Thánh Đường 60 tuổi vừa được trùng tu năm 1999 - cũng
chính là cái nôi kẻ viết bài này chào đời và được
nuôi dưỡng, ấp ủ cả quãng đời niên thiếu. Một ấn
tượng sâu sắc nhất đối với tôi là năm khánh thành
Ngôi Thánh Đường Dũng Vy cũng là năm tôi cất tiếng
khóc chào đời (1939 - Kỷ Mão). Đó cũng chính là năm chú
ruột của tôi (ông Đinh Văn Sách) về làng mở tiệc khao
mừng chức chánh quản (một chức vụ tương đương với
Quan Tứ phẩm trong Triều đình Phong kiến). Biết bao nhiêu
cảm xúc, biết bao nhiêu hồi ức, hoài tưởng, kỷ niệm
dồn dập xô tới như những ngọn triều cứ càng lúc
càng lớn, càng lúc càng trào dâng. Ký ức thì thật nhiều
nhưng không hiểu tôi còn đủ khả năng ghi lại đầy đủ
và có trình tự được như
một cuốn phim không ? Vẫn tràn đầy những màu hồng của
tuổi ngọc và màu xanh lớp lớp của hy vọng thanh xuân.
Nói về Thôn Ngoài, xin khởi từ ngày tòng giáo. Nguyên cả cánh đồng màu mỡ ôm lấy lũy tre làng phía Bắc và một phần phía Đông, là đất canh tác của cả 2 thôn: Thôn Ngoài và Thôn Trong. Còn Thôn Đinh thì có cánh đồng phía Nam của làng trải dài đến sát bờ đê sông Đuống. Tất nhiên cánh đồng nào cũng có tư điền và công thổ. Tư điền là của riêng từng nhà dân. Còn công điền công thổ là ruộng đất chung của làng. Công điền của 2 Thôn Ngoài và Thôn Trong nằm ở Đường Giồ, nơi những thửa ruộng được xếp vào loại Thượng đẳng điền. Do có chia thôn nên cũng phải chia công điền theo tỷ lệ dân số. Dân Thôn Ngoài ít nên nhận được phần công điền nhỏ hơn, đó cũng là lẽ thường. Nhưng càng về sau càng bị chèn ép theo cái thế “cả vú lấp miệng em”, “cá lớn nuốt cá bé” của Thôn Trong. Tức nước vỡ bờ - việc lên quan mà quan thì cứ “nắm kẻ có tóc”, chứ ai lại “nắm kẻ trọc đầu”. Cho nên việc kiện tụng cứ mãi là “kiện củ khoai”. Mà thời gian càng kéo dài thì “kẻ có tóc” càng có lợi thế. Thôn Ngoài càng lúc càng bị lép vế, đành dùng mưu trí, bám lấy các vị Cố Đạo vì ở thời điểm này, các vị ấy có rất nhiều uy thế với Chính quyền. Một thỏa thuận được giao kết: Dân Thôn Ngoài thắng kiện thì sẽ tòng giáo. Đó là thời gian Đức Giám Mục Chỉnh đang đảm nhiệm Tông Tòa Bắc Ninh. Thôn Ngoài tòng giáo từ đó (vào khoảng thập niên 80 thế kỷ XVIII). Người Thầy tiên khởi được cử về dạy kinh hạt giáo lý cùng các nghi thức tế lễ Kitô Giáo là Thầy già Tín. Vì thế, sau này khi Thầy già Tín qua đời thì cả thôn đều chọn ngày 20-11 âm lịch (ngày tạ thế của Thầy) làm ngày giỗ chung, coi như giỗ Tổ vậy. Ngôi Thánh Đường đầu tiên năm gian lợp tranh được dựng lên trên khu đất rộng khoảng nửa hécta nằm gần phía Đông Thôn Ngoài, phía Bắc giáp lũy tre làng, phía Nam giáp con đường Đông Tây giữa làng. Nhà thờ làm dọc theo hướng Đông Tây, gần với đường giữa làng, hai đầu hồi trát vách đất kín, hai hướng Nam và Bắc trổ nhiều cửa phần lớn đều bằng phên tre. Về sau cũng trên nền cũ, nhà thờ được xây bằng gạch lợp ngói cũng năm gian, làm cửa gỗ suốt hai hướng Nam Bắc (cửa bức bàn), hai đầu hồi xây kín có tô những hình cửa giả. Còn làm thêm hai tảo mạc Đông Tây thành hình chữ U hướng về Nam, sát đường làng có xây tường và trổ cổng, đối diện với cổng - bên kia đường làng - xây một cái giếng khá lớn, đường kính lòng giếng khoảng 2m. Giếng sau này không dùng được vì liền với ao làng, nước bị ô nhiễm nặng. Lối kiến trúc này vẫn dựa trên nền kiến trúc cổ Đông Phương và mang phong cách VN (kiến trúc Đình) khá rõ nét. Tuy nhiên, nét hoành tráng thanh thoát của phong cách kiến trúc Tây Phương cũng đã được manh nha (nhà thờ và hai tảo mạc đều dùng tường đứng, mái phẳng và thẳng góc, chứ không dùng kiểu mái cong, tường trạm trỗ...). Đến thời Cha J.M Nguyễn Khắc Mẫn về làm chính xứ, hai tảo mạc được rỡ đi (bán cho 2 người: Ô. Trùm Đụng Nguyễn Đình Sính - và ông Xếp - Đinh Văn Khúc). Tới khoảng năm 1938, cha chính Mẫn hợp cùng dân họ xây dựng ngôi Thánh Đường theo hướng Bắc (đầu nhà thờ) Nam (cuối nhà thờ) ở chính giữa khuôn viên đất. Ngôi nhà thờ 5 gian cũ vẫn để lại làm trường học (đến đầu năm 1952 thì bị phá bỏ do chính biến, các cụ gom góp lại đem vào trùng tu ngôi nhà xứ cũng đã xuống cấp nặng nề. Ngôi nhà xứ được xây lại có ghi trên bậu cửa chính hướng Nam: “Trọng Thu Nhâm Thìn - 1952” tồn tại đến ngày nay). Thánh Đường mới được khánh thành năm 1939 mang phong cách Thánh Đường Phương Tây (La Mã), với thời điểm đó phải nói là rất uy nghi tráng lệ nổi tiếng khắp vùng. Nếu đem so với nhà thờ Cẩm Giang thì nhà thờ Dũng Vy đã cách tân hoàn toàn. Nhà thờ Cẩm Giang còn mang đậm dấu ấn cổ Đông Phương, cả bên ngoài lẫn bên trong (như bàn thờ vẫn còn sơn son thiếp vàng) thì ở Dũng Vy từ bàn thờ đến tượng Thánh đều được xây đắp, tô đúc rất đẹp. Phía Bắc, đầu nhà thờ là nhà Chung với ngôi nhà chính cũng 5 gian xây hướng Nam. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ ngôi nhà này xây theo lối cổ, chạy hiên đủ 4 mặt, trong nhà thì làm trần bằng cót và hoa văn trang trí được tượng hình bằng Dịch Số (ở giữa trần là hình âm dương, tứ phía là các chữ Càn ☰, Khảm ☵, Cấn ☶, Chấn ☳, Tốn ☴, Ly ☲, Khôn ☷, Đoài ☱ đủ bát quái tự viết đúng theo lối chữ triện của Dịch số) nhìn tổng thể thì nhà Chung + Nhà thờ + Trường học (Nhà thờ cũ) hợp thành chữ Công 工rất có ý nghĩa (xin mở ngoặc nói thêm về Cha Chính Mẫn: Ngài có bốn nghĩa tử là Công, Minh, Chính, Trực)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 1)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 7)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 8)
Nói về Thôn Ngoài, xin khởi từ ngày tòng giáo. Nguyên cả cánh đồng màu mỡ ôm lấy lũy tre làng phía Bắc và một phần phía Đông, là đất canh tác của cả 2 thôn: Thôn Ngoài và Thôn Trong. Còn Thôn Đinh thì có cánh đồng phía Nam của làng trải dài đến sát bờ đê sông Đuống. Tất nhiên cánh đồng nào cũng có tư điền và công thổ. Tư điền là của riêng từng nhà dân. Còn công điền công thổ là ruộng đất chung của làng. Công điền của 2 Thôn Ngoài và Thôn Trong nằm ở Đường Giồ, nơi những thửa ruộng được xếp vào loại Thượng đẳng điền. Do có chia thôn nên cũng phải chia công điền theo tỷ lệ dân số. Dân Thôn Ngoài ít nên nhận được phần công điền nhỏ hơn, đó cũng là lẽ thường. Nhưng càng về sau càng bị chèn ép theo cái thế “cả vú lấp miệng em”, “cá lớn nuốt cá bé” của Thôn Trong. Tức nước vỡ bờ - việc lên quan mà quan thì cứ “nắm kẻ có tóc”, chứ ai lại “nắm kẻ trọc đầu”. Cho nên việc kiện tụng cứ mãi là “kiện củ khoai”. Mà thời gian càng kéo dài thì “kẻ có tóc” càng có lợi thế. Thôn Ngoài càng lúc càng bị lép vế, đành dùng mưu trí, bám lấy các vị Cố Đạo vì ở thời điểm này, các vị ấy có rất nhiều uy thế với Chính quyền. Một thỏa thuận được giao kết: Dân Thôn Ngoài thắng kiện thì sẽ tòng giáo. Đó là thời gian Đức Giám Mục Chỉnh đang đảm nhiệm Tông Tòa Bắc Ninh. Thôn Ngoài tòng giáo từ đó (vào khoảng thập niên 80 thế kỷ XVIII). Người Thầy tiên khởi được cử về dạy kinh hạt giáo lý cùng các nghi thức tế lễ Kitô Giáo là Thầy già Tín. Vì thế, sau này khi Thầy già Tín qua đời thì cả thôn đều chọn ngày 20-11 âm lịch (ngày tạ thế của Thầy) làm ngày giỗ chung, coi như giỗ Tổ vậy. Ngôi Thánh Đường đầu tiên năm gian lợp tranh được dựng lên trên khu đất rộng khoảng nửa hécta nằm gần phía Đông Thôn Ngoài, phía Bắc giáp lũy tre làng, phía Nam giáp con đường Đông Tây giữa làng. Nhà thờ làm dọc theo hướng Đông Tây, gần với đường giữa làng, hai đầu hồi trát vách đất kín, hai hướng Nam và Bắc trổ nhiều cửa phần lớn đều bằng phên tre. Về sau cũng trên nền cũ, nhà thờ được xây bằng gạch lợp ngói cũng năm gian, làm cửa gỗ suốt hai hướng Nam Bắc (cửa bức bàn), hai đầu hồi xây kín có tô những hình cửa giả. Còn làm thêm hai tảo mạc Đông Tây thành hình chữ U hướng về Nam, sát đường làng có xây tường và trổ cổng, đối diện với cổng - bên kia đường làng - xây một cái giếng khá lớn, đường kính lòng giếng khoảng 2m. Giếng sau này không dùng được vì liền với ao làng, nước bị ô nhiễm nặng. Lối kiến trúc này vẫn dựa trên nền kiến trúc cổ Đông Phương và mang phong cách VN (kiến trúc Đình) khá rõ nét. Tuy nhiên, nét hoành tráng thanh thoát của phong cách kiến trúc Tây Phương cũng đã được manh nha (nhà thờ và hai tảo mạc đều dùng tường đứng, mái phẳng và thẳng góc, chứ không dùng kiểu mái cong, tường trạm trỗ...). Đến thời Cha J.M Nguyễn Khắc Mẫn về làm chính xứ, hai tảo mạc được rỡ đi (bán cho 2 người: Ô. Trùm Đụng Nguyễn Đình Sính - và ông Xếp - Đinh Văn Khúc). Tới khoảng năm 1938, cha chính Mẫn hợp cùng dân họ xây dựng ngôi Thánh Đường theo hướng Bắc (đầu nhà thờ) Nam (cuối nhà thờ) ở chính giữa khuôn viên đất. Ngôi nhà thờ 5 gian cũ vẫn để lại làm trường học (đến đầu năm 1952 thì bị phá bỏ do chính biến, các cụ gom góp lại đem vào trùng tu ngôi nhà xứ cũng đã xuống cấp nặng nề. Ngôi nhà xứ được xây lại có ghi trên bậu cửa chính hướng Nam: “Trọng Thu Nhâm Thìn - 1952” tồn tại đến ngày nay). Thánh Đường mới được khánh thành năm 1939 mang phong cách Thánh Đường Phương Tây (La Mã), với thời điểm đó phải nói là rất uy nghi tráng lệ nổi tiếng khắp vùng. Nếu đem so với nhà thờ Cẩm Giang thì nhà thờ Dũng Vy đã cách tân hoàn toàn. Nhà thờ Cẩm Giang còn mang đậm dấu ấn cổ Đông Phương, cả bên ngoài lẫn bên trong (như bàn thờ vẫn còn sơn son thiếp vàng) thì ở Dũng Vy từ bàn thờ đến tượng Thánh đều được xây đắp, tô đúc rất đẹp. Phía Bắc, đầu nhà thờ là nhà Chung với ngôi nhà chính cũng 5 gian xây hướng Nam. Tôi vẫn còn nhớ rất rõ ngôi nhà này xây theo lối cổ, chạy hiên đủ 4 mặt, trong nhà thì làm trần bằng cót và hoa văn trang trí được tượng hình bằng Dịch Số (ở giữa trần là hình âm dương, tứ phía là các chữ Càn ☰, Khảm ☵, Cấn ☶, Chấn ☳, Tốn ☴, Ly ☲, Khôn ☷, Đoài ☱ đủ bát quái tự viết đúng theo lối chữ triện của Dịch số) nhìn tổng thể thì nhà Chung + Nhà thờ + Trường học (Nhà thờ cũ) hợp thành chữ Công 工rất có ý nghĩa (xin mở ngoặc nói thêm về Cha Chính Mẫn: Ngài có bốn nghĩa tử là Công, Minh, Chính, Trực)
ĐẤT CỔ VIỆT YÊN XỨ KINH BẮC
Published on May 2, 2012
Việt Yên là một huyện đồng bằng, nằm ở phía tây tỉnh Bắc Giang. Đây là huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc với 19 làng quan họ đã được UNESCO đưa vào danh mục di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại .Việt Yên là huyện nằm ven sông Cầu, có địa giới hành chính như sau:
Phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh,
Phía tây giáp huyện Hiệp Hòa,
Phía đông giáp huyện Yên Dũng,
Phía bắc giáp huyện Tân Yên và thành phố Bắc Giang.
Các đơn vị hành chính gồm
Hai thị trấn là: Thị trấn Bích Động (huyện lị), thị trấn Nếnh,
Các xã: Quang Châu, Ninh Sơn, Tiên Sơn, Trung Sơn, Bích Sơn, Nghĩa Trung, Hồng Thái, Tăng Tiến, Quảng Minh, Vân Hà, Vân Trung, Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Tự Lan, Hương Mai, Hoàng Ninh, Nếnh.
Di tích lịch sử
Việt Yên có nhiều ngôi đình không những mang giá trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu mà còn trở thành biểu trưng văn hóa của làng xã Việt Nam như đình Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên) xây dựng năm 1686; đình Đông (Bích Động - Việt Yên). Nhiều ngôi chùa ở Việt Yên cũng đã được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như: chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn - Việt Yên), chùa Vĩnh Hưng Tự (thôn Khả Lý thượng, xã Quảng Minh, Việt Yên), chùa Sùng Nghiêm Tự và đìng làng (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung, Việt Yên) được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đặc biệt vào ngày 16, 17, 18 tháng 2 âm lịch tại 2 chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn) và Sùng Nghiêm Tự (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung) có ngày hội lớn, tại thôn Vân Cốc, xã Vân Trung có lễ rước thánh rất trang nghiêm.
Các làng quan họ Bắc Giang
Việt Yên là huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 23 làng quan họ, thì Việt Yên có tới 19 làng quan họ cổ (Toàn vùng Kinh Bắc hiện có 67 làng, trong đó: Yên Phong có 16 làng, Từ Sơn có 3 làng, Tiên Du có 11 làng, thành phố Bắc Ninh có 14 làng, Yên Dũng có 2 làng, Hiệp Hòa có 2 làng).
19 làng quan họ Bắc Giang ở Việt Yên gồm: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ, Mật Ninh, Quang Biểu, Núi Hiểu, Tam Tầng, Thổ Hà, Tiên Lát Thượng, Tiên Lát Hạ, Thần Chúc, Yên Ninh, Trung Đồng, Vân Cốc, Đình Cả, Đông Long, Khả Lý Thượng.
Kinh tế và giáo dục
Hiện nay Việt Yên đang trên đà phát triển. Điển hình là khu công nghiệp Đình Trám (Nhà máy ô tô Hyundai lớn nhất Việt Nam), Khu công nghiệp Hoàng Mai. Khu công nghiệp Quang Châu đã đưa vào sử dụng, với số lượng công nhân làm việc lên tới hơn 10.000 lao động (số liệu tháng 11/2011). Ngoài ra còn có Quảng Minh với những làng rau xanh lớn vào loại nhất khu vực miền bắc: Đông Long, Mật Ninh, Khả lý Thượng, Hạ... cung cấp ra cho cho hầu hết miền bắc và xuất khẩu. Nơi phát lưu truyền những làn điệu quan họ của Kinh Bắc xưa ven dòng sông Cầu huyền thoại và lịch sử. Giáo dục có tất cả 4 trường THPT: Việt Yên Số 1, 2, Lý Thường Kiệt, Tư Thục, và một trường Cao đẳng Nông Lâm, chất lượng giáo dục của trường THPT Việt Yên số 1 được xếp vào tốp đầu của tỉnh!
Danh nhân
Thân Nhân Trung.
Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.
Quận công Dương Quốc Cơ (người làng Vân Cốc, xã Vân Trung - sinh trưởng trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Quận công Dương Quốc Cơ là đời thứ 8 của họ Ngô chuyển từ Hưng Yên đến, do các đời trước các cụ tổ làm trung thần cho vua Mạc Đăng Dung nên phải đổi họ sang Dương)
Nhà văn Đỗ Chu
Phía nam giáp tỉnh Bắc Ninh,
Phía tây giáp huyện Hiệp Hòa,
Phía đông giáp huyện Yên Dũng,
Phía bắc giáp huyện Tân Yên và thành phố Bắc Giang.
Các đơn vị hành chính gồm
Hai thị trấn là: Thị trấn Bích Động (huyện lị), thị trấn Nếnh,
Các xã: Quang Châu, Ninh Sơn, Tiên Sơn, Trung Sơn, Bích Sơn, Nghĩa Trung, Hồng Thái, Tăng Tiến, Quảng Minh, Vân Hà, Vân Trung, Việt Tiến, Thượng Lan, Minh Đức, Tự Lan, Hương Mai, Hoàng Ninh, Nếnh.
Di tích lịch sử
Việt Yên có nhiều ngôi đình không những mang giá trị lịch sử, văn hoá tiêu biểu mà còn trở thành biểu trưng văn hóa của làng xã Việt Nam như đình Thổ Hà (Vân Hà - Việt Yên) xây dựng năm 1686; đình Đông (Bích Động - Việt Yên). Nhiều ngôi chùa ở Việt Yên cũng đã được ghi nhận trong lịch sử Phật giáo Việt Nam như: chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn - Việt Yên), chùa Vĩnh Hưng Tự (thôn Khả Lý thượng, xã Quảng Minh, Việt Yên), chùa Sùng Nghiêm Tự và đìng làng (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung, Việt Yên) được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia. Đặc biệt vào ngày 16, 17, 18 tháng 2 âm lịch tại 2 chùa Bổ Đà (xã Tiên Sơn) và Sùng Nghiêm Tự (thôn Vân Cốc, xã Vân Trung) có ngày hội lớn, tại thôn Vân Cốc, xã Vân Trung có lễ rước thánh rất trang nghiêm.
Các làng quan họ Bắc Giang
Việt Yên là huyện có nhiều làng quan họ nhất ở vùng văn hóa Kinh Bắc. Hiện nay, tỉnh Bắc Giang có 23 làng quan họ, thì Việt Yên có tới 19 làng quan họ cổ (Toàn vùng Kinh Bắc hiện có 67 làng, trong đó: Yên Phong có 16 làng, Từ Sơn có 3 làng, Tiên Du có 11 làng, thành phố Bắc Ninh có 14 làng, Yên Dũng có 2 làng, Hiệp Hòa có 2 làng).
19 làng quan họ Bắc Giang ở Việt Yên gồm: Hữu Nghi, Giá Sơn, Mai Vũ, Nội Ninh, Sen Hồ, Mật Ninh, Quang Biểu, Núi Hiểu, Tam Tầng, Thổ Hà, Tiên Lát Thượng, Tiên Lát Hạ, Thần Chúc, Yên Ninh, Trung Đồng, Vân Cốc, Đình Cả, Đông Long, Khả Lý Thượng.
Kinh tế và giáo dục
Hiện nay Việt Yên đang trên đà phát triển. Điển hình là khu công nghiệp Đình Trám (Nhà máy ô tô Hyundai lớn nhất Việt Nam), Khu công nghiệp Hoàng Mai. Khu công nghiệp Quang Châu đã đưa vào sử dụng, với số lượng công nhân làm việc lên tới hơn 10.000 lao động (số liệu tháng 11/2011). Ngoài ra còn có Quảng Minh với những làng rau xanh lớn vào loại nhất khu vực miền bắc: Đông Long, Mật Ninh, Khả lý Thượng, Hạ... cung cấp ra cho cho hầu hết miền bắc và xuất khẩu. Nơi phát lưu truyền những làn điệu quan họ của Kinh Bắc xưa ven dòng sông Cầu huyền thoại và lịch sử. Giáo dục có tất cả 4 trường THPT: Việt Yên Số 1, 2, Lý Thường Kiệt, Tư Thục, và một trường Cao đẳng Nông Lâm, chất lượng giáo dục của trường THPT Việt Yên số 1 được xếp vào tốp đầu của tỉnh!
Danh nhân
Thân Nhân Trung.
Anh hùng Nguyễn Văn Cốc.
Quận công Dương Quốc Cơ (người làng Vân Cốc, xã Vân Trung - sinh trưởng trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học. Quận công Dương Quốc Cơ là đời thứ 8 của họ Ngô chuyển từ Hưng Yên đến, do các đời trước các cụ tổ làm trung thần cho vua Mạc Đăng Dung nên phải đổi họ sang Dương)
Nhà văn Đỗ Chu
Sunday, January 20, 2013
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
Tôi đã
có hơi dài dòng - mà nói về quê hương thì ngại chi dài
dòng - nhưng vẫn chỉ một mục đích: để con cháu đời
sau có thể hình dung nơi quê cha đất tổ với một niềm
tự hào trên thực tế, chứ không chỉ bằng huyễn hoặc.
Bây giờ thì xin nói thẳng vào Dũng Vy, vào trong làng với cả hình thức lẫn nội dung: Xét về đại thể và theo đúng phương pháp họa đồ quốc tế (phương Bắc ở trên, Nam ở dưới, Đông phải, Tây trái) thì Dũng Vy giống như một cỗ xe: đầu xe là Xóm Đông và Cầu Giỏ, thùng xe là Thôn Ngoài, thân xe là Thôn Trong, bánh xe là Thôn Đinh, bánh xe dự phòng (secours) là xóm Gạ. Cỗ xe đang chạy trên con đường thiên lý là dải đê sông Đuống. Đang oai Dũng tiến thẳng về phía Đông (hướng Mặt Trời mọc - hướng đại cát trong Dịch số - Kinh Dịch). Chi tiết hơn, Dũng Vy có 3 thôn (nhất xã tam thôn): thôn Giáo (Ngoài), thôn Lương (Trong) và thôn Đinh. Trước kia vẫn gọi theo hệ thống hành chính phong kiến là: Làng Dũng Vy - xã Dũng Vy - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh. Sau CMT8/1945 đổi xã thành Tri Phương. Sau 1954, đổi tỉnh thành Hà Bắc và huyện sáp nhập với huyện Từ Sơn đổi thành huyện Tiên Sơn. Nhưng đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX lại gọi lại như cũ = Dũng Vy - Tiên Du - Bắc Ninh. Vậy là Dũng Vy vẫn là Dũng Vy, mãi mãi vẫn là Dũng Vy, dù trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, biết bao dâu biển sao dời vật đổi. Làng được bao bọc bởi một lũy tre rất kiên cố (theo truyền ngôn thì lũy tre này rất dày và rất lớn, có 2 lớp tre đan kín thành vòm che con đường giữa lũy rộng khoảng gần 2m để tuần đinh đi tuần quanh làng phòng trộm cướp), sau này (khoảng thập kỷ 10 - thế kỷ XX), lũy tre chỉ còn lớp ngoài và con đường đi tuần nằm vào phía trong lũy (chứ không nằm giữa lũy như xưa). Làng có 2 con đường lớn: một đường Đông Tây chạy thẳng từ cổng Cầu Giỏ tới cổng Cầu Ve, một đường Bắc Nam nối với đường Đông Tây ở ngã ba chợ giữa làng chạy thẳng tới cổng Cầu Cung, qua Đinh thôn tới tận đê sông Đuống. Nếu nhìn từ trên xuống theo đúng họa đồ vị trí, thì 2 con đường này họp thành chữ Đinh (丁). Phải chăng vì thế mà thôn nằm kề chân của chữ (丁) gọi là thôn Đinh ? Quả thực, càng tìm hiểu, càng suy nghĩ, càng thấy kỳ thú. Ngoài 3 cổng làng đã nói ở trên, còn 3 cổng nữa: một ở góc Đông Nam gọi là Cửa Đông, một ở góc Tây Nam gọi là Cửa Đồng Thần và một ở góc Tây Bắc gọi là Cửa Ngõ.
Bây giờ thì xin nói thẳng vào Dũng Vy, vào trong làng với cả hình thức lẫn nội dung: Xét về đại thể và theo đúng phương pháp họa đồ quốc tế (phương Bắc ở trên, Nam ở dưới, Đông phải, Tây trái) thì Dũng Vy giống như một cỗ xe: đầu xe là Xóm Đông và Cầu Giỏ, thùng xe là Thôn Ngoài, thân xe là Thôn Trong, bánh xe là Thôn Đinh, bánh xe dự phòng (secours) là xóm Gạ. Cỗ xe đang chạy trên con đường thiên lý là dải đê sông Đuống. Đang oai Dũng tiến thẳng về phía Đông (hướng Mặt Trời mọc - hướng đại cát trong Dịch số - Kinh Dịch). Chi tiết hơn, Dũng Vy có 3 thôn (nhất xã tam thôn): thôn Giáo (Ngoài), thôn Lương (Trong) và thôn Đinh. Trước kia vẫn gọi theo hệ thống hành chính phong kiến là: Làng Dũng Vy - xã Dũng Vy - huyện Tiên Du - tỉnh Bắc Ninh. Sau CMT8/1945 đổi xã thành Tri Phương. Sau 1954, đổi tỉnh thành Hà Bắc và huyện sáp nhập với huyện Từ Sơn đổi thành huyện Tiên Sơn. Nhưng đến cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX lại gọi lại như cũ = Dũng Vy - Tiên Du - Bắc Ninh. Vậy là Dũng Vy vẫn là Dũng Vy, mãi mãi vẫn là Dũng Vy, dù trải qua biết bao thăng trầm lịch sử, biết bao dâu biển sao dời vật đổi. Làng được bao bọc bởi một lũy tre rất kiên cố (theo truyền ngôn thì lũy tre này rất dày và rất lớn, có 2 lớp tre đan kín thành vòm che con đường giữa lũy rộng khoảng gần 2m để tuần đinh đi tuần quanh làng phòng trộm cướp), sau này (khoảng thập kỷ 10 - thế kỷ XX), lũy tre chỉ còn lớp ngoài và con đường đi tuần nằm vào phía trong lũy (chứ không nằm giữa lũy như xưa). Làng có 2 con đường lớn: một đường Đông Tây chạy thẳng từ cổng Cầu Giỏ tới cổng Cầu Ve, một đường Bắc Nam nối với đường Đông Tây ở ngã ba chợ giữa làng chạy thẳng tới cổng Cầu Cung, qua Đinh thôn tới tận đê sông Đuống. Nếu nhìn từ trên xuống theo đúng họa đồ vị trí, thì 2 con đường này họp thành chữ Đinh (丁). Phải chăng vì thế mà thôn nằm kề chân của chữ (丁) gọi là thôn Đinh ? Quả thực, càng tìm hiểu, càng suy nghĩ, càng thấy kỳ thú. Ngoài 3 cổng làng đã nói ở trên, còn 3 cổng nữa: một ở góc Đông Nam gọi là Cửa Đông, một ở góc Tây Nam gọi là Cửa Đồng Thần và một ở góc Tây Bắc gọi là Cửa Ngõ.
Làng có một ngôi Đình
rất lớn sát lũy tre phía Nam gần cổng Cầu Cung với hai
tảo mạc rất khang trang. Đình hướng Nam, cổng xây theo
lối Tam Quan (3 cửa), trước cổng xây một cái giếng thả
sen có đủ Tam Cấp và Thủy Tạ. Phía sau Đình là một
ngôi Chùa (có lối đi riêng) gọi là Chùa Trong, và một
ngôi Chùa nữa nằm giữa cánh đồng ngăn cách thôn Trong
và thôn Đinh gọi là Chùa Ngoài. Ngay giữa làng, chỗ tiếp
giáp ngã ba giữa hai con đường Đông Tây và Nam Bắc, có
một Văn Chỉ khá lớn dưới bóng những cây si cổ thụ.
Xin dừng ở đây để nói rõ hơn về Đình - Chùa - Văn
Chỉ, mà nhiều người vẫn ngộ nhận đó là của Phật
Giáo. Thực ra, chỉ có Chùa là của Phật Giáo thôi. Còn
Đình, là một nét văn hóa đặc sắc của Việt Nam. Đình
không phải là nơi thờ Phật mà là nơi thờ các vị tiền
bối có công lớn với làng (cụ thể là Thành Hoàng:
những người có công lớn trong làng đã quá cố, được
Triều đình sắc phong làm thần bảo hộ làng, và làng có
bổn phận phải thờ cúng quanh năm). Vì thế mỗi ngôi
Đình của mỗi làng thờ một vị thần riêng của làng,
chứ không như tất cả các ngôi Chùa đều thờ Phật.
Đình còn là nơi tụ hội mỗi khi làng có hội hè đình đám và ở mỗi ngôi Đình có một ông Đám trông coi, chứ không có Sư trụ trì. Còn nói về Văn Chỉ thì lại khác hẳn. Văn Chỉ xuất phát từ Khổng Giáo và hoàn toàn chú trọng vào Văn học (Khổng Tử chủ trương NHẬP THẾ chứ không XUẤT THẾ như Phật Thích Ca hoặc Lão Tử), Văn Chỉ không phải là nơi thờ thần (Khổng Tử đã từng nói: “Kính quỉ thần nhi viễn chi” - Kính trọng quỉ thần từ xa xa - ý muốn nói: “Tôi không muốn bàn đến quỉ thần” hoặc “tôi không hẳn là không tin có quỉ thần mà cũng không hẳn là tin có quỉ thần - xin đừng bắt tôi phải nói về quỉ thần”). Văn Chỉ là nơi để tế lễ tưởng nhớ các vị Tiên Hiền Nho Giáo, có thể dùng làm nơi tụ họp các nho sinh bình văn đọc sách, vì thế trong Văn Chỉ có những bệ xây theo những hình khối nhất định - thường là những hình lập phương - và trên bệ không hề có để tượng thờ một vị thần (khi tế lễ mới rước tượng Khổng Phu Tử, Mạnh Tử hoặc một danh nho VN như Chu Văn An ra để trên bệ mà tế lễ thôi). Văn Chỉ thường chỉ có ở những làng trọng văn học và có những bậc Đại Khoa (Cử nhân, Tiến sĩ hoặc ít ra cũng Tú tài). Dũng Vy tuy chưa có các bậc Đại Khoa, mới chỉ có các vị Khóa sinh (đỗ trong phạm vi Tỉnh) như cụ Thủ Hiệu (Thôn Ngoài), cụ Chánh Hội Niên (Thôn Trong) mà đã xây Văn Chỉ, chứng tỏ rằng Dũng Vy rất coi trọng Văn học. Và cả một vùng rộng lớn cũng mới chỉ có một Văn chỉ Dũng Vy, điều này đủ cho các thế hệ sau tự hào về cha ông của mình.
Câu nói ở trên của tôi về làng tôi (“nôi trong nôi” - cái “nôi văn hóa làng tôi” trong cái “nôi văn hóa Kinh Bắc”) tưởng cũng không ngoa lắm vậy ! Sau l954, Dũng Vy đã có các bậc Đại Khoa (không phải Đại Khoa Nho giáo vì Nho học đã bị bãi bỏ ở nước ta từ đầu thế kỷ XX theo trào lưu tiến hóa chung của Thế giới) hậu bối như: Đinh Văn Đích (ĐHSP khoa Sử - tương đương cử nhân Sử), Đinh Văn Bảo (Võ bị LQ. Đàlạt - tương đương cử nhân), Đinh Văn Diệm (Cử nhân giáo khoa Văn Chương Việt Hán), Đinh Công Luy (Cử nhân Sử), Nguyễn Văn Hùng (tức Duyến - con ông Hội Gioan - Kỹ sư Cầu đường) - Lớp hậu duệ sau nữa thì có rất nhiều kỹ sư, giáo sư, dược sĩ... Đó phải chăng là những thành quả tốt đẹp sinh sôi nảy nở từ cái nôi trọng Văn học của Văn Chỉ Dũng Vy ?
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 1)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 7)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 8)
Đình còn là nơi tụ hội mỗi khi làng có hội hè đình đám và ở mỗi ngôi Đình có một ông Đám trông coi, chứ không có Sư trụ trì. Còn nói về Văn Chỉ thì lại khác hẳn. Văn Chỉ xuất phát từ Khổng Giáo và hoàn toàn chú trọng vào Văn học (Khổng Tử chủ trương NHẬP THẾ chứ không XUẤT THẾ như Phật Thích Ca hoặc Lão Tử), Văn Chỉ không phải là nơi thờ thần (Khổng Tử đã từng nói: “Kính quỉ thần nhi viễn chi” - Kính trọng quỉ thần từ xa xa - ý muốn nói: “Tôi không muốn bàn đến quỉ thần” hoặc “tôi không hẳn là không tin có quỉ thần mà cũng không hẳn là tin có quỉ thần - xin đừng bắt tôi phải nói về quỉ thần”). Văn Chỉ là nơi để tế lễ tưởng nhớ các vị Tiên Hiền Nho Giáo, có thể dùng làm nơi tụ họp các nho sinh bình văn đọc sách, vì thế trong Văn Chỉ có những bệ xây theo những hình khối nhất định - thường là những hình lập phương - và trên bệ không hề có để tượng thờ một vị thần (khi tế lễ mới rước tượng Khổng Phu Tử, Mạnh Tử hoặc một danh nho VN như Chu Văn An ra để trên bệ mà tế lễ thôi). Văn Chỉ thường chỉ có ở những làng trọng văn học và có những bậc Đại Khoa (Cử nhân, Tiến sĩ hoặc ít ra cũng Tú tài). Dũng Vy tuy chưa có các bậc Đại Khoa, mới chỉ có các vị Khóa sinh (đỗ trong phạm vi Tỉnh) như cụ Thủ Hiệu (Thôn Ngoài), cụ Chánh Hội Niên (Thôn Trong) mà đã xây Văn Chỉ, chứng tỏ rằng Dũng Vy rất coi trọng Văn học. Và cả một vùng rộng lớn cũng mới chỉ có một Văn chỉ Dũng Vy, điều này đủ cho các thế hệ sau tự hào về cha ông của mình.
Câu nói ở trên của tôi về làng tôi (“nôi trong nôi” - cái “nôi văn hóa làng tôi” trong cái “nôi văn hóa Kinh Bắc”) tưởng cũng không ngoa lắm vậy ! Sau l954, Dũng Vy đã có các bậc Đại Khoa (không phải Đại Khoa Nho giáo vì Nho học đã bị bãi bỏ ở nước ta từ đầu thế kỷ XX theo trào lưu tiến hóa chung của Thế giới) hậu bối như: Đinh Văn Đích (ĐHSP khoa Sử - tương đương cử nhân Sử), Đinh Văn Bảo (Võ bị LQ. Đàlạt - tương đương cử nhân), Đinh Văn Diệm (Cử nhân giáo khoa Văn Chương Việt Hán), Đinh Công Luy (Cử nhân Sử), Nguyễn Văn Hùng (tức Duyến - con ông Hội Gioan - Kỹ sư Cầu đường) - Lớp hậu duệ sau nữa thì có rất nhiều kỹ sư, giáo sư, dược sĩ... Đó phải chăng là những thành quả tốt đẹp sinh sôi nảy nở từ cái nôi trọng Văn học của Văn Chỉ Dũng Vy ?
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
Xa về phía Tây chút
nữa là Đình Bảng - quê hương vua Thái Tổ nhà Lý: Lý
Công Uẩn. Dã sử kể: Hồi nhỏ Lý Công Uẩn là một chú
tiểu nhỏ ở Chùa Hộ Pháp thuộc Đình Bảng (Pháp Tăng
là sư trụ trì). Lý Công Uẩn rất thích ăn oản, mà lại
chỉ thích ăn... trộm. Cứ tối tối Lý tiểu ta có nhiệm
vụ thắp nhang đèn trên đại điện, thế nào cũng mò
tới mấy miếng oản cúng Hộ Pháp và để thay vào đó
bằng mấy miếng... đất sét. Không ai phát giác được.
Tức vì oản thực chẳng được ăn, chỉ ăn toàn oản
đất sét, Hộ Pháp báo mộng cho Pháp Tăng: “Nhà ngươi
có làm thế nào, nếu không thì ta đến chết đói mất.
Bao nhiêu oản nhà ngươi cúng cho ta đều bị Hoàng Đế
lấy ăn hết sạch". Pháp Tăng lấy làm lạ, trong chùa
thì ngoài sư ra, có một vãi già nấu cơm, bác Mộc lực
điền lo việc ruộng nương và một chú tiểu oắt, đào
đâu ra Hoàng Đế ? Bèn để tâm rình và bắt được tại
trận tên trộm oản, đè ra nện cho một trận thẳng tay.
Lý tiểu ta cay lắm, sáng hôm sau lên chùa thắp nhang định
tâm tát cho Hộ Pháp mấy tát, nhưng Hộ Pháp to cao quá,
tát không tới đành ra sau lưng đạp cho 3 đạp, rồi lấy
ngón tay thấm nước bọt viết lên lưng Phật 4 chữ: “Đầy
tam thiên lý” (đầy đi 3000 dặm), mồm lẩm bẩm: “Mẹ
kiếp, mi là đất sét thì ăn đất sét là đúng quá rồi,
còn kêu ca nỗi gì khiến sư phụ đánh ta một trận tơi
bời. Ta lưu đày mi ra ngoài 3000 dặm cho bõ ghét !”. Đêm
sau sư Pháp Hoa lại được báo mộng: “ Ta bị Hoàng Đế
đạp 3 đạp chỉ vì không chịu ăn oản đất sét, lại
còn bị lưu đầy 3000 dặm. Thôi, vĩnh biệt !”. Sau đó,
nhà sư có lên coi tượng và đọc được 4 chữ Lý Công
Uẩn viết sau lưng. Nhà sư hơi nhột, lấy khăn lau hoài
mà chữ vẫn rõ mồn một, không sao sạch được. Dần
dần, tượng Hộ Pháp rệu rã như đất sét gặp mưa
thành một đống. Đến khi ấy, sư mới thật sự sợ hãi
và tin rằng chú tiểu có khí mệnh Đế Vương. Tới khi
Lý Công Uẩn trở thành Đại Tướng Triều Lê cầm quân
đánh Chiêm Thành, rồi về lật đổ Lê Ngọa Triều (Lê
Long Đĩnh) chính thức lên ngôi Hoàng Đế hiệu là Lý
Thái Tổ (Vua đầu tiên Triều Lý), lập triều đình ở
Đình Bảng, nhưng sau đó thác mộng thấy rồng bay lên ở
thành Đại La, liền xuống chiếu dời đô về Đại La.
Đổi tên Thành Đại La là Thăng Long Thành (cho ứng với
điềm mộng). Kinh đô nước ta từ đó có tên Thăng Long.
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !”
Tạm dịch:
Giả thử giặc thù xâm phạm mãi
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 1)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 7)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 8)
Như vậy thì phải nói
Dũng Vy nằm giữa một cái nôi văn hóa (“nôi trong nôi”
vậy !). Sợ bài viết quá dài nên tôi còn chưa đào sâu
thêm vào cái tên “nôi văn hóa”. Chỉ biết rằng Kinh
Bắc cũng chính là quê ngoại của Nguyễn Du - một đại
thi hào Việt Nam không tiền khoáng hậu. Kinh Bắc cũng là
quê hương của ca trù, của dân ca quan họ. Không những
thế, dựa vào dãy núi hình cánh cung phía Bắc của Dũng
Vy (núi Chè, Cổ Miễu...), trên có sông Cầu, dưới có
sông Đuống, Lý Thường Kiệt đã lập nên “phòng tuyến
sông Cầu” để ngăn chống giặc Tống xâm chiếm nước
ta. Lý Thường Kiệt là một danh tướng văn võ toàn tài,
đã từng cầm quân đánh cả sang Tàu chiếm được Châu
Ung, Châu Liêm, với câu nói bất hủ “Muốn phòng thủ
chắc chắn, hãy tấn công vào hang ổ địch” và một
bài thơ tuyệt tác:
“Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !”
Tạm dịch:
Sông núi nước Nam vua
Nam ở
Phận định tất nhiên
tại sách trờiGiả thử giặc thù xâm phạm mãi
Tụi bay sẽ bị đánh
tơi bời !
Saturday, January 19, 2013
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
Phía Bắc của làng là
cả một cánh đồng màu mỡ hàng năm 2 vụ chiêm + mùa
cung ứng lương thực cho cả làng. Ngòi Cầu Ve tính từ
cổng làng phía Tây (gọi là cổng Cầu Ve) chảy thẳng
lên phía Bắc, gặp nhánh sông từ Tây Bắc (Đồng Xép)
chảy xuống hợp lưu tại Nghè Mậy (còn gọi là Nghè Tam
Giang) rồi ôm lấy cánh đồng làng chảy thẳng về Đông.
Trên cánh đồng bao la, biết bao di tích, nào là Nghè Mậy,
Cửa Ngõ, Đường Làng, Lò Ngói, Cầu Bạc, Đường Giồ,
Đường Ông Soi, Bờ Cừ, Mả Chúa... nhiều quá không thể
nói hết lai lịch. Chỉ xin nói về Nghè Mậy. Tại sao lại
là Nghè Mậy ? Chữ Nghè ở đây, theo từ nguyên, được
hiểu là một ngôi đền (chứ không phải quan Nghè - một
chức danh của Tiến Sĩ thuở xưa) thờ một vị thần
nào đó (Nghè Mậy thờ Thần Sông). Đền này thường là lớn hơn
Miếu và nhỏ hơn Chùa, cách kiến trúc gần giống như
Tam quan ở các Đình, Chùa. Chung quanh Nghè, những gốc si
sù sì tỏa bóng xuống mặt nước. Tam giang là nơi nghỉ
mát lý tưởng cho nông phu vào những buổi trưa oi nồng.
Theo truyền khẩu, Nghè Mậy thờ một nữ thần. Một hôm
ông tổ của ông Đinh Văn Khiên (Trùm Sừ) vốn là một
phù thủy có hạng (hồi đó Dũng Vy chưa tòng giáo), ghé
Nghè Mậy nghỉ mát. Chẳng biết nổi hứng sao đó, lấy
hết chuối cúng xuống ăn, úp hết bát nhang xuống đất
(ý hẳn muốn ghẹo chơi... nữ thần !). Một trận chiến
nổ ra ào ào như bão tố, lá si chung quanh đều rụng bằng
sạch. Biết là gặp phải tay chẳng vừa, lại chiến đấu
tại phòng tuyến của đối phương rất bất lợi, ngài
Phù Thủy đành một tay bắt ấn, một tay chèo thuyền,
rồi lên bờ lui về Cửa Ngõ - cứ điểm của mình. Về
tới Cửa Ngõ, tính đã chắc ăn, định bụng phản công
mãnh liệt giành chiến thắng (lòng vẫn nghĩ: đối phương
dù sao cũng chỉ là... đàn bà !). Ai dè một cành tre ở
Cửa Ngõ từ trên cao quất thẳng xuống mặt, hất tung
chiếc nón dứa quai thao trên đầu (nữ thần tác quái đó
!). Theo phản xạ tự nhiên, ngài Phù Thủy đưa ngay bàn
tay đang giữ ấn ra chụp lấy cái nón. Ấn đã buông, hết
hiệu lực, âm binh tan tác, thầy bị quật chỏng gọng,
mồm ứa máu. Thảm bại ! Sau này, đành đem âm binh ra ký
gởi tại Lã Vôi và không truyền nghề cho con cháu nữa.
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 1)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 7)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 8)
Từ Nghè Mậy tới Bờ
Cừ (cống thoát nước khi đồng bị úng thủy, lại ngăn
được nước khi đồng bị khô hạn, rất khoa học), con
Ngòi Cầu Ve ở quãng này được gọi là Tào Khê. Bên bờ
Bắc của Tào Khê là Đồng Lạng (cũng là do một chi họ
của Dũng Vy tách ra). Tiến thêm về hướng Bắc một
chút, có cả một dãy núi vòng cung chắn ngang (gồm các
ngọn núi Chè, Cổ Miễu, Bát Vạn, Phật Tích, Long Khám).
Ở núi Chè (Trà Sơn), ngoài tích chùa Ba Cóc, còn một sự
tích có trong chính sử: Bà Chúa Chè (chính là Tuyên Phi
Đặng Thị Huệ, vợ Chúa Trịnh Khải - đời Lê). Bát
Vạn có Chùa Bách Môn (có đủ 100 cửa - làm theo kiểu
bức bàn và mở ra đủ 4 hướng). Phật Tích có một bàn
cờ bằng đá trên đỉnh núi (tục truyền có tiên về
đánh cờ - vì thế mới gọi quả núi này là Phật Tích).
Bên cạnh bàn cờ là một hồ nước trong vắt mà vào
thập kỷ 30-40 (thế kỷ XX). Bảo Đại - Vua cuối cùng
Triều Nguyễn - thường hay cùng Nam Phương Hoàng Hậu về
tắm ở đây. Đến Long Khám lại có chùa Long Giáng được
miêu tả rất tỉ mỉ và nên thơ do ngòi bút trữ tình
tài hoa Khái Hưng Trần Khánh Giư ở tác phẩm đầu tay
(cũng là tác phẩm đầu tiên của Tự Lực Văn Đoàn):
Hồn Bướm Mơ Tiên. Phía Tây Nam qua làng Đại Trung, tới
sát bờ đê sông Đuống, là làng Phù Đổng. Học sử
Việt Nam, không ai quên được cậu bé Phù Đổng (Thánh
Gióng) lớn nhanh như thổi khi nghe Sứ giả Triều đình
tuyển quân tướng phá giặc Ân đang xâm chiếm nước ta.
Cậu cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt phá giặc. Giặc nếu
không chết vì roi sắt thì cũng chết vì lửa do ngựa sắt
phun. Đánh giặc đến gẫy cả roi sắt giặc vẫn chưa
yên, Thánh Gióng liền nhổ cả tre đằng ngà (một loại
tre rất cứng và dẻo dai) mà đánh giặc. Đến khi toàn
thắng thì cũng vừa lúc Thánh Gióng phi ngựa tới chân
núi Sóc Sơn. Ngài phóng thẳng lên đỉnh núi rồi cả
người lẫn ngựa thăng thiên ! Trong chính sử chỉ ghi khi
giặc Ân bên Tầu xâm chiếm nước ta thì có vị tướng
tài giỏi là Phù Đổng Thiên Vương nổi lên đánh đuổi
ra khỏi bờ cõi, giữ yên non sông gấm vóc. Câu chuyện
kể trên thuộc dã sử, mang tính huyền hoặc, thần thánh
hóa vị anh hùng cứu nước. Nhưng lạ một điều là suốt
dọc cánh đồng từ làng Phù Đổng, qua Đại Trung, Phù
Chẩn, Đồng Xép tới Lim (địa danh nổi tiếng của Kinh
Bắc: “Trai Cầu Vồng, Yên Thế - Gái Nội Duệ, Cầu
Lim”, đồng thời cũng là nơi hàng năm mở hội hát Quan
Họ Bắc Ninh), có những vũng nước khá lớn (chưa đủ
lớn để gọi là ao) cách nhau khoảng vài chục mét chạy
chữ chi giống như dấu chân của một động vật khổng
lồ để lại trên đường đi của nó. Theo truyền ngôn
thì đó là dấu chân ngựa Thánh Gióng. Chẳng hiểu vì
sao mà trải qua hàng ngàn năm, các vũng nước lớn đó
không ai lấp kín được (các cụ thường nói đến mùa
cấy, nông dân lấp đất trồng lúa, nhưng khi gặt xong,
trâu bò lại cứ nhè đúng những chỗ đó mà đằm mình
xuống, rồi thì những chỗ đó lại thành vũng nước cho
chúng tắm rửa, ngâm mình, cho tới năm sau, nông dân lại
lấp, và cứ vậy luân chuyển hết năm này qua năm khác,
các vũng nước chữ chi vẫn tồn tại cùng thiên nhiên
cẩm tú). Có một đặc điểm là ở làng Phù Chẩn, nơi
ngựa Thánh Gióng đi qua, tre một nửa làng có thuần một
màu vàng cả cây lẫn lá (tre vẫn sống, vẫn phát triển,
chứ không phải vàng úa mà chết đi). Đã có người đem
tre ở nửa làng xanh tươi sang trồng bên nửa làng vàng
úa, đến khi tre phát triển lại vẫn cứ đặc điểm của
cả lá lẫn cây đều vàng. Làm ngược lại, đem tre bên
vàng trồng sang bên xanh, thì tre lại xanh. Thật là lạ
lùng và thú vị với một huyền sử: Tại ngựa Thánh
Gióng trên đường đánh giặc, đã phun lửa cháy mất nửa
làng Phù Chẩn nên sau này tre của nửa làng cháy cứ có
màu vàng. Chúng ta có quyền hoài nghi về tính huyền hoặc
của truyền thuyết, nhưng thực tế thì Phù Chẩn lại có
một tên gọi rất ấn tượng: làng Cháy. Xin kể thêm một
chuyện vui có thật. Có 2 toán thợ gặt - một của Đại
Vy, một của Phù Chẩn - cùng đi gặt thuê cho một chủ ở
Dũng Vy. Đến bữa cơm trưa, một thợ gặt Đại Vy muốn
ăn cơm cháy (cho thơm miệng) liền nói với người ngồi
ngoài xới cơm (chắc cũng chỉ chủ ý nói cho vui): “Đào
Phù Chẩn lên mà quật” (đào cháy lên mà ăn), thế là
cháy chưa kịp đào lên đã thấy liềm hái dựng lên tua
tủa: “Nào, Phù Chẩn đây, có ngon thì cứ đào lên mà
quật !). Cũng may là chủ nhà Dũng Vy khéo can, không thì
lại bị ngựa Thánh Gióng phun cháy cả chủ lẫn thợ.
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
Tại sao lại không thể
nghĩ rằng có 3 cậu ông trời (con cóc là cậu ông trời
mà !) vân du qua đây thấy cảnh chùa u tịch liền dừng
lại coi và cảnh trước mắt đã hấp dẫn họ: một tiên
lang và một tiên nữ đang kề vai sát cánh kẻ đàn người
họa, kẻ ngâm thơ người thêu thùa, kẻ hát người múa,
kẻ tụng kinh người niệm hương hoặc đang châu đầu
chung một ván cờ bên tách trà và lư trầm thơm ngát
hương tình. Và rồi thì ngây ngất trước cảnh, xúc động
trước tình, 3 cậu ông trời ngồi chầu cho đến khi hóa
thành đá. Đấy, Dũng Vy nằm giữa một cái nôi đẹp đến
như thế, thơ mộng đến như thế, đáng yêu đến như
thế, bảo sao tôi không bồi hồi nhớ lại và muốn ghi
chép để lưu truyền cho con cháu đời sau.
Phía Đông làng tôi
giáp với xóm Sen (thuộc làng Cao Đường). Nghe đồn các
vị sư trụ trì ở Chùa Trong - Chùa Ngoài thuộc làng tôi,
rồi cả các vị ở Chùa Ba Cóc, Chùa Bách Môn, Chùa Phật
Tích (phía Bắc làng), đến cả các vị trụ trì Chùa Hộ
Pháp ngoài Đình Bảng - Từ Sơn (phía Tây của làng), cứ
đến mùa Hè có lễ hội muốn dâng hương sen, lại tấp
nập về làng tôi rồi qua xóm Sen lựa hoa. Phía Tây của
làng có con sông nhỏ (quen gọi là Ngòi Cầu Ve) tên là
Ngưu Giang ôm lấy lũy tre làng chảy lên phía Bắc, gặp
nhánh sông phía Tây Bắc (làng Đồng Xép) chảy xuống hợp
lưu tại Nghè Mậy và tiếp tục ôm lấy cánh đồng màu
mỡ của làng mà chảy mãi về Đông, cho tới nơi hội tụ
của 6 dòng sông gần biển Đông (Thái Bình Dương), gọi
Lục Đầu Giang. Bên kia Ngòi Cầu Ve, cách một quãng đồng
là làng Đại Vy (nhưng Đại Vy lại có một xóm nhỏ nằm
sát bờ Tây Ngòi Cầu Ve, ngay liền bên làng tôi. Hai bên
có thể tán gẫu qua lại với nhau, tên xóm nhỏ rất gợi
hình: xóm Gạ. Đáng yêu quá, muốn gạ gì mà chẳng
được !). Không hiểu sao xóm nhỏ đó lại không thuộc
làng tôi (mà chỉ Gạ gẫm thôi !), lại thuộc Đại Vy
cách xa hơn ? Có lẽ do phong thổ (thổ âm xóm Gạ giống
hệt Đại Vy mà khác hẳn Dũng Vy). Tiến thêm về phía
Tây nữa là Đại Thượng, Dương Húc, Phù Chẩn, Lã Vôi,
Đình Bảng, Cẩm Giang, Từ Sơn. Phía Tây Nam còn có làng
Đại Trung và xa hơn nữa, giáp bờ đê sông Đuống là
làng Phù Đổng - quê hương Thánh Gióng.
Phía Nam làng cũng có
một nhánh sông ôm sát lũy tre làng, gọi Ngòi Cầu Cung,
hợp lưu với Ngưu Giang ngay tại xóm Gạ. Qua Ngòi Cầu
Cung thì tới Đền Vua và Mả Ngụ. Nghe đồn từ xa xưa,
Triều đình phong kiến có lập tại đây một trường tập
bắn cung gọi là Mả Ngụ và xây dựng một ngôi đền
(Đền Vua) để nếu nhà vua có về ngự thi xạ tiễn thì
có nơi để nghỉ ngơi. Theo suy nghĩ của tôi thì có lẽ
trường tập bắn tên là Mã Ngự (ngựa của vua hoặc có
thể hiểu theo nghĩa: Mã là ngựa, Ngự là vua ngự lãm -
Mã Ngự là vua cỡi ngựa bắn cung hoặc xem bắn cung - ở
đây tôi giải thích chữ Mã Ngự theo cách giải thích
những chữ sau: Ngự thiện = Vua ăn cơm - Ngự triều = Vua
họp triều đình - Ngự xạ = Vua bắn cung - Ngự tiễn =
mũi tên vàng của vua v.v...), rồi theo dòng thời gian, dân
chúng đọc trại đi (luật biến âm của từ nguyên) thành
Mả Ngụ chăng ? Tôi đã hỏi các vị cao niên, nhưng không
ai rõ nguồn gốc chữ Mả Ngụ và cũng chẳng thấy có
ngôi mộ nào tại trường tập bắn cả. Còn một điểm
nữa, cổng làng phía Nam của làng tôi gọi là cổng Cầu
Cung (nơi ghi dấu một cái Cung đường để nhà vua cầu
phúc, hoặc có thể hiểu là nơi cầu cho cung tên được
bách phát bách trúng). Trên cổng Cầu Cung còn có 3 đại
tự: PHÚC LAI VI (phúc lại vi hành đến hoặc phúc đến
với làng Dũng Vy). Tổng hợp cả 3 địa danh CẦU CUNG -
ĐỀN VUA - MẢ NGỤ, chứng tỏ có ghi dấu ấn các Hoàng
đế phong kiến ở nơi đây mà 3 đại tự PHÚC LAI VI có
thể là do vua ban hoặc sắc phong cho làng. Như vậy thì Mả
Ngụ có thể hiểu là Mã Ngự cũng có lý lắm chứ ! Tiếc
một điều thời gian dâu biển, ngày nay hỏi đến thật
ít người lưu tâm. Con đường từ cổng Cầu Cung đi
thẳng hướng Nam thì gặp bờ đê sông Đuống (tên chữ
là Thiên Đức Giang - con sông đào từ đời Thiên Đức
để chia bớt áp lực nước từ sông Hồng và cũng là
cách dẫn thủy nhập điền của tổ tiên xưa), bên cạnh
đường này về phía Tây là Đền Vua và Mả Ngụ đã nói
ở trên, còn cạnh đường về phía Đông là thôn Đinh
cũng thuộc làng tôi (làng có 3 thôn - nhất xã tam thôn:
Thôn Ngoài - Thôn Trong và Thôn Đinh, sau này khi Thôn Ngoài
tòng Giáo thì được gọi là: Thôn Giáo, Thôn Lương và
Thôn Đinh).
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 1)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 2)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 3)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 4)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 5)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 6)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 7)
XỨ DŨNG QUÊ TÔI (Đoạn 8)
Subscribe to:
Posts (Atom)