Monday, June 15, 2015

Về đơn vị hành chính “Tổng” ở Việt Nam - Đinh Khắc Thuân

Về đơn vị hành chính “tổng” ở Việt Nam
[ 20/08/2014 05:45 AM | Lượt xem: 380 ]
Về đơn vị hành chính “tổng” ở Việt Nam
Đinh Khắc Thuân
 
Tổng là đơn vị trung gian giữa huyện và xã trong hệ thống hành chính được duy trì trong một thời gian dài dưới thời phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, nguồn gốc, thời điểm xuất hiện và chức năng của tổng đến nay vẫn còn là những câu hỏi chưa có lời giải đáp thoả đáng. Phần đông các nhà sử học đều cho rằng, tổng chỉ xuất hiện vào thời Nguyễn (đầu thế kỷ XIX trở đi). Song không ít người đưa ra một thời điểm xuất hiện sớm hơn của đơn vị hành chính này. Bài viết này đưa ra một số tư liệu mới cùng một vài kiến giải bước đầu, hy vọng góp thêm vào cuộc thảo luận cho vấn đề được nêu.
 
1. Sự xuất hiện đơn vị hành chính tổng
Nguồn tư liệu thư tịch cho biết đơn vị hành chính cấp tổng xuất hiện khá muộn. Kể cả Dư địa chí của Nguyễn Trãi biên soạn vào thế kỷ XV, đến các bộ dư địa chí, bản đồ thời Hồng Đức, cũng như Ô Châu cận lục của Dương Văn An thế kỷ XVI chưa hề chép về tổng. Trong các bộ sử đương thời cũng vậy, như Đại Việt sử ký toàn thư - cuốn biên niên sử ghi chép các sự kiện lịch sử Việt Nam từ buổi đầu lập nước đến năm cuối cùng đời vua Lê Gia Tông (Đức Nguyên 2 - 1675), cũng không có dòng nào chép về đơn vị hành chính tổng này. Nguồn tư liệu thư tịch sớm nhất ghi chép về tổng có lẽ là Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, tác phẩm được biên doạn vào thế lỷ XVIII.
 
Tuy vậy, qua một số văn bia chúng ta thấy đơn vị hành chính tổng xuất hiện không những ở thời nhà Mạc thế kỷ XVI mà cả vào thời Lê Sơ (từ đầu thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI).
 
Bia Tự điền bi ký, số kí hiệu thác bản 3382-3, khắc năm Hồng Đức 2 (1471) tại xã La Khê (nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình) ghi: “Điền tại bản huyện, Nội Lãng tổng, Huyền Chân xã”, nghĩa là “Ruộng tại xã Huyền Chân, tổng Nội Lãng trong huyện”. Bia Công chúa tự điền, kí hiệu thác bản 3675, dựng năm Hồng Thuận 5 (1513) ở đền Vũ Bị (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) ghi: “Nhất sở tại Cổ Bị tổng, An Nội xã, tam mẫu ngũ cao”, nghĩa là “Ruộng 1 mảnh tại xã An Nội, tổng Cổ Bị, diện tích là 3 mẫu 5 sào”; hoặc “Bản tổng An Phú xã”, nghĩa là “xã An Phú trong tổng”…
 
Trong văn bia thời Mạc thế kỷ XVI, chúng ta thấy tổng xuất hiện phổ biến và đầy đủ hơn trong hệ thống đơn vị hành chính ở địa phương.
 
Chẳng hạn trên bia chùa Hồng Khánh (xã Đốc Hành, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) ghi: “Tín vãi các xã và các tổng của huyện Tân Minh cúng ruộng vào chùa năm Hưng Trị 2 (1589)”. Bia chùa Thiên Phúc, xã Đa Phúc, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây ghi: “Ninh Sơn huyện, x x tổng, Lật Sài xã”, nghĩa là “xã Lật Sài, tổng x x, huyện Ninh Sơn”. Hai chữ ghi tên tổng này bị mờ, nhưng rõ ràng là tên gọi của một tổng nào đó thuộc huyện Ninh Sơn. Căn cứ vào sách Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX thì đây là tổng Lật Sài, nay phần lớn các xã của tổng này thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây.
 
Bia hội tư văn huyện Tân Minh đặt tại xã Ninh Duy (huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) kê số người trong hội tư văn của 11 tổng trong huyện Tân Minh, phủ Kinh Môn năm Sùng Khang 10 (1574) là: “Tổng Xuân Cát gồm 33 người, tổng Động Hàm gồm 44 người, tổng Kim Đới gồm 26 người, tổng Văn Thị 22 người, tổng Lật Khê 2 người, tổng Kinh Thanh 13 người, tổng Yên Tử Hạ 1 người, tổng Tân Duy 23 người, tổng Cẩm Khê 3 người, tổng Tự Tân 2 người, tổng Xuân úc 1 người”.
 
Bia chùa Phúc Lâm Hoằng Thệ xã Vĩnh Thệ, huyện Tiên Phong (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) dựng năm Hưng Trị 2 (1589) ghi: “Hai tổng Thanh Long và Tây Đằng được làm ba khu: các xã Thanh Long, Vị Nội, Kim Bình Lũng làm 1 khu, các xã Tây Đằng, Phấn Thượng, Lai Bồ, Phấn Phan, Nghệ Trai, Nghị Dũng làm 1 khu…”1. Trong một số văn bia khác còn thấy ghi tên gọi người đứng đầu của tổng là Tổng chính (bia chùa Hương Sơn, nay thuộc huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ), hay Trùm tổng như trên bia chùa Hồng Phúc (nay tuộc xã Xuân ổ, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh)…
 
Như vậy, tổng không những xuất hiện từ thời Mạc mà đã xuất hiện từ trước bởi “từ hai tổng Thanh Long và Tây Đằng mà chia thành ba khu” như văn bia Phúc Lâm Hoằng Thệ ghi đã nêu ở trên.
 
Đây là những tư liệu sớm nhất hiện biết về tổng. Trước thời kì Lê Sơ, tuyệt nhiên chưa từng thấy dấu tích nào của đơn vị hành chính này. Tuy đã xuất hiện ở giai đoạn Lê Sơ, song tên gọi này cũng chỉ mới xuất hiện ở một vài địa phương. Sang thời Mạc, những đơn vị hành chính tổng này tiếp tục được duy trì và mở rộng hơn. Thực tế, sự xuất hiện của đơn vị hành chính ở tổng thời kỳ đầu này không phải là chủ ý của triều đình Lê hay Mạc mà do nhu cầu thực tại của từng địa phương trước sự mở rộng và phát triển làng xã từ nửa sau thời Lê trở đi. Cũng như phủ ở Trung Quốc, ban đầu do một số châu lớn mà lập thêm phủ, nên sau đó phủ trở thành đơn vị hành chính quản lý cấp châu và huyện; tổng ở thời Lê Sơ và Mạc xuất hiện gắn với nhu cầu các hoạt động tín ngưỡng khá sôi nổi dưới thời Lê - Mạc, nhất là ở triều Mạc với sự xuất hiện ngôi đình làng và việc thờ thành hoàng ở đình, đồng thời gắn với nhu cầu mở rộng phát triển làng xã, nhiều xã mới hình thành và đòi hỏi có một cấp trung gian để cai quản các xã đó, trước hết về sinh hoạt tín ngưỡng, tổ chức lễ hội, làm thuỷ lợi…
 
Cũng chính vì tổng xuất hiện do sự mở rộng của làng xã, nên mỗi tổng thường gồm một số làng xã có chung một tên Nôm gốc, do vậy, ngoài tên Hán Việt, mỗi tổng còn có tên Nôm. Sau mỗi làng có một tên Nôm riêng, có yếu tố gốc đứng đầu. Phần lớn tên gọi của tổng được lấy theo tên gọi của một xã đứng đầu, như tổng Tây Đằng, nay thuộc địa phận huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây gồm các xã: Tây Đằng, Lai Bồ, Vình Thệ, Văn Trai, Kim Bí và Đằng Lũng; tổng Lập Bái nay thuộc địa phận huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có các xã Lập Bái, An Tiêm, Hương La, An Khê, Cổ Sách, Thượng Đạo1… Những làng xã có tên được dùng cho tên của tổng được gọi là dân đầu tổng, thường ở vị trí trung tâm, có những đặc điểm nổi hơn về dân cư, kinh tế và trong nhiều trường hợp, cả về tính cách.
 
Trong khi hầu hết các đơn vị hành chính khác được sử dụng trong các triều đại phong kiến Việt Nam như đạo, lộ, phủ, huyện, xã đều có nguồn gốc từ Trung Hoa thì tổng hoàn toàn không mang yếu tố ngoại lai. Tuy nhiên, tổng không phải là do nhà nước phong kiến thời Lê hay thời Mạc đưa xuống mà chính là sản phẩm của các yếu tố sau:
 
- Yếu tố địa lý: mỗi tổng thường gồm một số làng nằm chung một thế đất, thế nước, do vậy có chung nguồn nước tưới tiêu. Điều này ở các vùng trung du, vùng chiêm trũng càng rõ nét hơn. Mỗi tổng thường gắn với một ô trũng có thế đất, thế nước riêng.
 
- Yếu tố lịch sử - văn hoá: các làng xã thuộc một tổng thường có chung một quá trình lịch sử hình thành và phát triển. Do vậy, thường cùng thờ chung thành hoàng, lúc đầu chung đình chùa, sau mới tách ra dùng đình chùa riêng.
 
Có thể thấy tổng Hội Phụ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc là một ví dụ điển hình. Tổng này lúc đầu có tên Nôm là Cói, do ở đây có một vệt ao hồ có nhiều cói mọc, sau phiên âm ra tên Hán - Việt là Cối Giang. Sau khi Trịnh Tùng lên nắm quyền, vì ghét em là Trịnh Cối làm phản (năm 1570) nên cho đổi làm Hội Giang, đến khi Trịnh Giang lên ngôi chúa (năm 1730) lại cho đổi làm Hội Phụ. Tổng này gồm 8 làng Cói, trong đó có các làng Cói ao dài (3 làng Du Nội, Du Ngoại và Du Bi, nằm trong xã Du Lâm), Cói Thái Đường, Cói Chợ… Các làng đều thờ Lý Chiêu Hoàng, Trần Cảnh, cùng tổ chức hội lệ vào đầu tháng 2. Các cụm làng lúc đầu thường chung đình chùa, sau dựng đình chùa riêng1.
 
Trường hợp tổng Dương Lễ, huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây là một ví dụ khác. Tổng này lúc đầu gồm 3 làng Sấu, gọi là Sấu Chợ (Dương Liễu, do làng có một chợ to), Sấu Vật (Quế Dương, do làng có truyền thống đấu vật) và Sấu Mậu (Mậu Hoà) nên gọi là tổng Sấu. Ba làng cùng nằm ven sông Đáy, chung dải đất bãi và đồng ruộng ở thế cao (đông mùa). Văn bia Bản tổng tạo đình bi ký dựng năm Chính Hoà 10 (1689) hiện dựng ở vệ đê sát đình Dương Liễu, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây cho biết 3 xã Dương Liễu, Quế Dương và Mậu Hoà trong tổng vốn có ngôi đình chung lợp lá, nay làm lại đình mới 3 gian 2 chái, sau đó định lệ tu bổ và tế lễ tại đình. Định lệ rằng, đình chia làm 5 phần, xã Dương Liễu, Quế Dương mỗi xã 2 phần, xã Mậu Hoà 1 phần lo tu bổ hàng năm và được chia ngồi nơi đình trung mỗi kỳ lễ hội. Hội vùng Sấu xưa kia tổ chức vào 12/3 là hội lớn, được phân công tổ chức rất chu đáo giữa 3 làng cùng thờ vọng Lý Phục Man - nhân vật lịch sử thế kỷ VI (nơi thờ chính là Quán Giá, xã Yên Sở). Về sau, hai làng Quế Dương và Mậu Hoà dựng đình riêng.
 
Từ chỗ xuất hiện rải rác ở một vài nơi rồi trở nên phổ biến ở nhiều địa phương và cuối cùng Nhà nước ở các triều đại sau đó mới thừa nhận và đặt nó trong hệ thống các bộ địa chí hành chính của quốc gia. Vì lẽ đó mà trong các bộ quốc sử hay trong các bộ địa chí của các triều đại phong kiến Việt nam, tổng chỉ mới được ghi từ những năm cuối thời Lê Trung Hưng (cuối thế kỷ XVIII) và trong các niên hiệu triều Nguyễn mà thôi.
 
2. Chức năng và tổ chức đơn vị cấp tổng
Từ những tư liệu trên có thể thấy rằng tổng chỉ là tập hợp của một cụm làng xã có mối quan hệ thân thuộc về địa lý, lịch sử, văn hoá và nhất là tín ngưỡng. Quy mô một tổng lúc đầu thường nhỏ, có chức năng chủ yếu là:
 
- Liên kết trong việc làm thuỷ lợi, bảo đảm nguồn nước tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp.
- Bảo trì và cúng tế tại một ngôi đình chung của tổng. Điều này hoàn toàn tương ứng với tên gọi dân gian của người đứng đầu của các tổ chức tín ngưỡng khác như lão vãi, sãi vãi… thường gặp trên văn bia thế kỷ XVII -XVIII.
- Liên kết chống trộm cướp.
Tuy nhiên, tổng chưa có chức năng thực thụ của một cấp hành chính ở địa phương.
 
Điều này hoàn toàn tương tự sự xuất hiện tổ chức “đô” (du) ở thời Minh Trung Quốc nhằm liên kết các động ở biên giới để tăng cường khả năng tự vệ1.
 
Chúng ta cũng đã gặp tên gọi đô này liên quan đến mấy động biên giới mà sử sách ghi là nhà Mạc trả lại cho nhà Minh vào năm Đại Chính 11 (1540), trong một đoạn văn sau: “Quảng Đông Khâm Châu thủ thần tấu xưng: Như Tích, Chiêm Lãng nhị đô Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát đẳng tứ động nguyên hệ Khâm Châu cố địa”, nghĩa là “Thủ thần Khâm Châu tâu xưng là 4 động Tư Lẫm, Kim Lặc, Cổ Sâm và Liễu Cát thuộc hai đô Như Tích và Chiêm Lãng là đất cũ của Khâm Châu”2. Chính vì không rõ đơn vị đô này nên không ít sách sử đã có sự nhầm lẫn về số lượng các động trên, chỗ thì ghi là 4 động, chỗ thì ghi là 5, thậm chí là 6 động. Thực tế chỉ có 4 động thuộc hai đô (tương tự tổng của người Việt) mà sau khi nhà Mạc thay thế nhà Lê.
 
Xuất hiện từ thời Lê - Mạc và tiếp tục được duy trì ở thời Lê - Trịnh thế kỷ XVII, XVIII, song tổ chức này vẫn chủ yếu tồn tại với chức năng liên kết tự nguyện một cụm làng xã với nhau trong các hoạt động thuỷ lợi, tín ngưỡng. Vì thế trong thời kỳ này xuất hiện một số ngôi chùa và ngôi đình chung của một vùng được gọi là chùa Tổng, đình Tổng.
 
Từ đầu thế kỷ XIX, khi mà cấp tổng được thành lập phổ biến trong phạm vi cả nước, thì tổng mới có chức năng của một đơn vị hành chính trong bộ máy chính quyền địa phương. Khi này mỗi tổng bao gồm trên dưới 10 xã thôn. Đứng đầu tổng là viên cai tổng và phó cai tổng, song từ năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), nhà Nguyễn định cho các địa phương chỉ đặt mỗi tổng một viên cai tổng. Sau đó được quy định cụ thể hơn là: tổng nào có số đinh dưới 5000 người, ruộng dưới 1000 mẫu, lại nhiều việc, ở cách xa huyện lỵ từ hai ngày đường trở lên thì ngoài viên cai tổng, còn cho đặt thêm một viên phó cai tổng. Đầu thời Nguyễn, chức cai tổng mang hàm bát phẩm, về sau giảm xuống hàm tòng cửu phẩm. Chức cai tổng thường là do các viên tri phủ, tri huyện kén chọn người rồi làm tờ đề đạt lên. Cai tổng là người có trách nhiệm trông coi một tổng, có nhiệm vụ: “Đến kỳ binh lương thì thu thuế đúng hạn, có trộm giặc lén lút thì nã bắt, hay có cường hào gàn dở thì vạch rõ để trị tội, có kẻ điêu toa gian dối thì trừng trị để cho thuế khoá xong đủ, địa phương yên ổn, dân không bị tổn hại và không bị phiền nhiễu”3.

Tóm lại, tổng xuất hiện từ thời Lê - Mạc và được duy trì trong thời Lê -Trịnh, song thực sự trở thành đơn vị hành chính cấp trung gian giữa huyện và xã mới từ đầu thời Nguyễn. Sự xuất hiện đơn vị cấp tổng này là hệ quả của sự mở rộng và phát triển của làng xã cả về quy mô không gian và dân cư, đến các hoạt động tín ngưỡng, văn hoá ngày càng phong phú nơi làng xã.
 
Source LichSu

Monday, June 8, 2015

Đình Dũng Vi - Blog KYDV

Đình Dũng Vi - Blog KYDV

Trước đây, trong một số bài viết của đồng hương Dũng Vi có nhắc đến ngôi đình làng cổ kính đã được nhà nước công nhận là Di sản Văn hóa quốc gia.


Ngôi đình này hiện vẫn tồn tại và tọa lạc tại Thôn Lương, thuộc xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy trên Google Maps với tên là Communal House of Luong Village - Di tích Lịch Sử Văn Hóa Đình Làng Lương (Thôn Lương). Xã Tri Phương hiện nay bao gồm 4 thôn là: Thôn Lương, Thôn Giáo, Thôn Đinh và Thôn Cao Đình.

Mùng 1, Tháng 2:
Hội Đình làng Lương - Tri Phương - Tiên Du - Bắc Ninh, Đình thờ 3 anh em họ Cao gia và bà Vương phi Ỷ Lan. (Source Wikipedia - Danh sách lễ hội ở Bắc Ninh)

Bản đồ Google
 
 
Trước đây vài Thế kỷ, khi Thôn Giáo chưa tòng giáo (theo đạo Công Giáo), Thôn Giáo và Thôn Lương là một như bài viết của Tác giả đồng hương Lam Thy Đinh Văn Diệm đã đề cập... Đình Làng Lương ngày nay có lẽ cũng chính là Đình Dũng Vi xa xưa... Hiện nay rất ít chi tiết về ngôi đình làng này được phổ biến, chúng tôi cũng đã cất công tìm kiếm (research) nhưng không có tài liệu lịch sử nào mô tả rõ ràng lai lịch cũng như kiến trúc của ngôi đình... Đại khái chỉ biết là Đình làng Dũng Vi đã được kiến trúc từ những Thế kỷ trước.

Trong những câu chuyện của gia đình. Tôi cũng đã được nghe song thân, nhất là thân phụ (Ông Đinh Tất Cuông) kể về những kỷ niệm thuở thơ ấu (vào khoảng những năm của thập niên 1930 của thế kỷ 20) khi ông còn đến sân đình làng mỗi ngày để vui chơi và học... Tuy nhiên những câu chuyện trên chỉ cho tôi biết là Làng Dũng Vi có ngôi đình cổ kính nằm khá gần nhà ở khu vực ngã ba cây bàng, chợ Ve... Ngoài ra ông bà cũng còn nhắc đến những địa danh khác như Văn Chỉ, Cầu Ve, Xóm Gạ, Phù Đổng...v.v.

Gần đây chúng tôi có tìm thấy trên Trang mạng Việt Land Marks có đăng nhiều hình ảnh chi tiết (khoảng hơn 100 tấm) về Đình Làng Lương mà người viết bài này cho rằng đó chính là Đình Dũng Vi (có lẽ còn cần thêm chứng thực từ những tài liệu chính thống). Bên cạnh đó, trang mạng này cũng cho biết thêm chi tiết về niên đại của ngôi đình được kiến trúc từ thời Lê Trung Hưng năm Chính Hòa thứ 21 (1700) và theo nhà nghiên cứu đình làng Nguyễn Hoài Nam thì đình Lương có nghệ thuật chạm khắc còn đẹp hơn cả Đình Đình Bảng. Đây là một báu vật kiến trúc thời Lê Trung Hưng còn ít người biết tới...

Mời quý đồng hương và bạn đọc cùng chúng tôi ghé xem những hình ảnh rõ ràng, chi tiết và sống động mà tôi nhận thấy đây là những kiệt tác về kiến trúc và điêu khắc phải tốn hàng chục năm để hoàn thành này tại địa chỉ: Đình Làng Lương

Một vài hình ảnh chia sẻ từ Trang mạng Việt Land Marks:




......
San Jose, California 6-2015
Blog KYDV
----------

Tài liệu liên quan:

Tìm hiểu di tích đình Lương, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh

----------

Bài viết liên quan:
- Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
- Quê hương qua Ca dao: Ba cô đội gạo lên chùa - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Thằng Cuội - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 8 Con Chuột - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bánh Bèo - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bán Rượu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Yêu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Lo - Đinh Thức
- Đình Dũng Vi - Blog KYDV
- Những tên gọi của làng Dũng Vi
- Những tên gọi của làng Dũng Vi (Tiếp theo)
- Thần Sắc và Thần Tích xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Thần Sắc và những vị Thành Hoàng làng Dũng Vi
- Văn Chỉ làng Dũng Vi
- Quê hương qua Ca dao: Cái Bống - Nhạc: Đinh Thức

Thursday, May 21, 2015

Từ Bốn Phương Trời - Trường dạy tiếng Việt ở Canada



Từ Bốn Phương Trời
Published on Jan 20, 2015
 
Đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài thì tiếng Việt là cội nguồn, là quê hương, là phương tiên để lưu giữ văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì vậy, mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh xa quê chính là việc làm sao để cho con cháu mình học và hiểu được tiếng Việt, văn hóa truyền thống của quê hương mình.

Tuesday, May 12, 2015

Từ bốn phương trời - Chợ chồm hổm tại Mỹ



Từ Bốn Phương Trời
Published on Jul 7, 2014
 
Những phiên chợ Việt luôn nằm trong trái tim những người con Việt xa xứ. Có lẽ vậy mà ngay tại Mỹ, ở những nơi có nhiều người con Việt, một ngôi chợ quê đã được hình thành và được nhiều người biết đến.

Monday, May 11, 2015

Nơi gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống

Thứ Tư, 24/12/2014 - 10:24
 
Nơi gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống
 
Lễ hội gắn liền với mỗi làng quê-làng quê là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc. Trong lũy tre làng bình dị ấy, ngôi đình, mái chùa, đền, miếu, mỗi dòng sông, bến nước... và các lễ hội chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá.
 
Lễ hội không phải là 2 phần tách biệt mà là một thể thống nhất xuyên suốt tôn vinh, ca ngợi công đức tiền nhân và việc tổ chức lễ hội hàng năm sẽ góp phần bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử. Trong lễ hội, phần lễ là gốc rễ, chủ đạo. Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu hàng ngày. Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn ra trong lễ hội, như đua thuyền, đấu vật, kéo co... thậm chí các trò chơi mang tính phồn thực vẫn đậm chất nghi lễ, phong tục, trở thành “cái tục” của thế giới thiêng liêng.
Về Bắc Ninh vào mùa xuân, ta lại được đến Hội đền Vua Bà (tức hội làng Diềm) là lễ hội truyền thống ở làng Quan họ gốc, nơi duy nhất thờ Đức Vua Bà trong số 49 làng Quan họ của tỉnh. Lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Đức Vua Bà-Thủy tổ Quan họ, người có công sáng tạo những làn điệu dân ca Quan họ.
Hình ảnh Vua Bà là kết tinh sáng tạo tuyệt vời, trí tưởng tượng kỳ vĩ, huyền diệu trong đời sống văn hóa nghệ thuật tâm linh, tín ngưỡng của người quan họ, để lại những giá trị văn hóa tinh thần quý giá cho con cháu muôn đời… Lễ hội cổ truyền chứa đựng nhiều giá trị văn hoá mà ở đó thế hệ sau có thể tìm hiểu về cuộc sống trong quá khứ. Qua  lễ hội, người ta biết hội Lim hàng năm được tổ chức  trên núi Lim có Hồng Ân tự, có lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn. Hội Tam Giang-Vọng Nguyệt lại gắn với đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt và trận tuyến chống Tống trên dòng Như Nguyệt. Hội chùa Dâu, Bút Tháp lại đưa người ta đi qua các công trình kiến trúc đậm chất Phật giáo, bước dần vào ý đạo theo chu trình tu đạo từ nhận thức đến thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ và giải thoát… Những hội làng khác hầu hết tổ chức tại đình làng, nơi thờ Thành hoàng là những người có công khai ấp, dựng làng, đánh giặc ngoại xâm giữ nước hoặc ông Tổ nghề truyền thống của địa phương.
Rõ ràng, tổ chức lễ hội đúng định hướng là một cách bảo tồn và trao truyền văn hóa. Trong chu kỳ một năm với bao nhọc nhằn, vất vả, lo toan, để rồi khi xuân về, cuộc sống nơi thôn quê lại dập dồn tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đền, đình, chùa mở hội. Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá thấm đẫm vào con người, cảnh vật tạo nên một bảo tàng sống về đặc trưng văn hoá vùng miền, dân tộc, và qua đó những giá trị đặc sắc lại tiếp tục được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Các làn điệu dân ca, các điệu múa dân gian, các hình thức sân khấu chèo, tuồng, rối nước, cải lương...; các trò chơi, trò diễn: đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải... được sản sinh từ lao động, chống giặc ngoại xâm, từ tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương, đất nước, và chính lễ hội lại là nơi duy trì, phát triển bản sắc, tinh túy văn hóa ấy trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua.
Trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay thì làng xã và lễ hội lại góp phần nhiều hơn trong việc bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Hoàng Mai - Vân Giang
 

Monday, April 20, 2015

Đôi nét thêm về Dũng Vi - Blog KYDV

Đôi nét thêm về Dũng Vi
 
Nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về Dũng Vi. Blog KYDV đã tìm kiếm và tạm đúc kết một số tài liệu có được trên mạng, qua đó có thể thấy rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của Dũng Vi trong chiều dài lịch sử của nước nhà...
 
 "Đình Làng Dũng Vy". Ảnh tư liệu của Kỷ Yếu Dũng Vi.
 
Theo tài liệu "Quá trình thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh - Tác giả Nguyễn Quang Khải" đăng trên Bắc Ninh Online. Dũng Vi xưa kia còn được gọi là Tổng Dũng Vi, bao gồm các xã: Dũng Vi, Trung Mầu, Thịnh Lân thuộc huyện Tiên Du. Theo "Đại việt sử ký toàn thư", tên huyện Tiên Du có từ thời nhà Trần (Thế kỷ 13).
 
Địa danh Dũng Vi đã được ghi chép trên "Bắc Ninh tỉnh Tiên Du huyện Dũng Vi tổng các xã thần sắc", mang ký hiệu AD.a7/27 của Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm vào khoảng Thế kỷ 17 dưới triều vua Quang Trung và Cảnh Thịnh (còn địa danh Dũng Vi được hình thành từ khi nào thì chưa được rõ)...
 
Từ sau 1954, Dũng Vi đã đổi tên thành xã Tri Phương thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Theo số liệu của Trang mạng ĐCSVN năm 2007. Xã Tri Phương có 7.679 người dân ở 4 thôn: Đinh, Lương, Giáo và Cao Đình.
 
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Xã Tri Phương có diện tích 5,69 km², dân số năm 1999 là 7057 người, [1] mật độ đạt 1240 người/km².
 
Như thế, qua những tài liệu trên đây, chúng ta đã có thể biết rõ hơn về quá trình nhiều thế kỷ hình thành và phát triển của Dũng Vi. Hy vọng tương lai sẽ có thêm những tài liệu giá trị mới.
 
Tháng 2-2015
Blog KYDV
----------