Monday, May 12, 2014

Bên những dòng sông quê hương - Th.s Đỗ Thị Thủy

Thứ năm, 31/12/2009 - 10:10

Núi sông là nơi tụ khí linh thiêng của đất trời và là hồn của quê hương đất nước. Bởi núi sông là điều kiện tự nhiên quan trọng để con người sinh cơ lập nghiệp và làm nên lịch sử, văn hóa của quê hương, đất nước:

Phía Bắc tỉnh Bắc Ninh là con sông Cầu, xưa có tên là Nguyệt Đức, bắt nguồn từ tỉnh Thái Nguyên, chảy qua tỉnh Bắc Giang, xuống Ngã Ba Xà qua một loạt các làng xã của các huyện thị Yên Phong, Bắc Ninh, Quế Võ, đổ vào sông Lục Đầu. Chạy song song với con sông này là các dãy núi như: Quả Cảm, Cổ Mễ, Đáp Cầu, Thị Cầu, Ngọc Xá, Phù Lương, Phù Lãng, Châu Cầu, Châu Phong. Vùng đất núi sông này đã trở thành “phên dậu” phía Bắc của dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm phương Bắc và đã được sử sách ca ngợi, dân gian truyền tụng.

Với vị thế là phên dậu, nên nơi đây đã sinh ra nhiều bậc anh hùng hào kiệt đánh giặc và cũng là nơi ghi dấu nhiều chiến công lẫy lừng của dân tộc ta chống giặc ngoại xâm. Suốt dãy núi Vũ Ninh, Châu Sơn ghi dấu về truyền thuyết “Thánh Gióng” người anh hùng đầu tiên đánh giặc giữ nước. Dọc sông Cầu, trên 370 làng thờ các danh tướng họ Trương (Trương Hống, Trương Hát) quê ở Vân Mẫu-Quế Võ có công đánh giặc Lương ở thế kỷ VI. Cũng con sông này, sách “Đại Việt sử ký toàn thư” của nhà sử học nổi tiếng Ngô Sĩ Liên viết vào thế kỷ XV đã ghi lại cuộc kháng chiến vĩ đại của quân dân nhà Lý đánh bại hàng chục vạn quân xâm lược Tống ở thế kỷ XI.

Sông Cầu, đoạn chảy qua Thị Cầu xưa được gọi là Thị Kiều, sách “Đại Nam nhất thống chí” đã ghi lại chiến công của quân dân nhà Trần đánh lui quân xâm lược Nguyên-Mông ở thế kỷ XIII. Các thế hệ anh hùng hào kiệt nối tiếp nhau, đến thời Lê Sơ trở đi, vùng đất này có nhiều danh nhân, nghĩa sĩ trung quân ái quốc đánh giặc giữ nước, tiêu biểu là dòng họ 18 Quận công (Quế ổ-Quế Võ) nhiều đời có công với dân với nước. Chính vì vậy, sử sách xưa đã gọi vùng đất Quế Dương là đất “Vũ dũng”.

Vùng đất ven sông Cầu, không những ghi dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc ta trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược phương Bắc, mà còn tạo điều kiện cho các làng xã phát triển nghề nông trồng lúa trồng màu, đánh bắt thủy sản, là quê hương của các làng nghề nổi tiếng. Sách “Kinh Bắc phong thổ ký diễn quốc sự” viết vào đầu thời Nguyễn, đã cho biết hàng trăm nghề thủ công của xứ Kinh Bắc, trong đó có các làng nghề ven sông Cầu, tiêu biểu như: tơ tằm (Vọng Nguyệt), gốm (Đương Xá, Quả Cảm, Thổ Hà, Phù Lãng), dệt vải (Đẩu Hàn, Viêm Xá), đường mật (Xuân Đồng, Viêm Xá), rượu bánh (Đại Lâm, Tam Đa), nung vôi luyện thép (Thị Cầu, Đáp Cầu), sơn thiếp Bình Cầu… Các làng nghề thủ công này đã góp phần làm nên sự trù phú và văn hiến của các làng xã. Đây còn là đất học của các nhà khoa bảng nổi tiếng như: Trạng Nguyên Nguyễn Nghiêu Tư (Phù Lương). Các Tiến sĩ Bồng Lai (Bồng Lai) hai cha con cùng đỗ một khoa, nên dân gian có câu “Tiến sĩ Bồng cha Bồng con”. Các dòng họ Tiến sĩ họ Nguyễn và họ Phạm Kim Đôi (Kim Chân) với 25 Tiến sĩ. Làng Vọng Nguyệt (Tam Giang-Yên Phong) nổi danh với tên tuổi của 9 vị đỗ đại khoa, riêng họ Ngô của làng 5 đời liên tiếp có người đỗ đạt và có tới 5 vị đỗ đại khoa.

Phía Đông Nam tỉnh Bắc Ninh là con sông Đuống, xưa có tên là sông Thiên Đức, bắt nguồn từ sông Nhị Hà (Sông Hồng), chảy qua một loạt các huyện (thị) như: Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành, Quế Võ, Gia Bình rồi đổ vào sông Lục Đầu. Sông này chảy đến địa phận huyện Thuận Thành thì có một nhánh lớn chảy xuống phía Nam được gọi là sông Dâu. Sông Đuống và sông Dâu là đầu mối giao thông đường thủy rất quan trọng, nối sông Hồng với sông Thái Bình và Biển Đông, nên trong dân gian vùng Dâu còn truyền nhau câu ca:

“Lênh đênh ba bốn thuyền kề
Thuyền ra biển cả, thuyền về sông Dâu”.

Vì vậy, ngay từ thời quốc gia Văn Lang-Âu Lạc, vùng Dâu đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa của nước ta. Khi nhà Hán xâm lược nước ta đã chọn vùng Dâu để xây thành Luy Lâu làm trị sở thống trị của chúng. Từ thời Hán đến Lục triều, Dâu-Luy Lâu luôn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng của nước ta. Nơi đây đã diễn ra nhiều cuộc khởi nghĩa giành độc lập dân tộc và chống đồng hóa của phong kiến phương Bắc, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tiến đánh giặc Tô Định tại thành Luy Lâu; để lại dấu ấn bằng hàng loạt các làng xã ở quanh thành Luy Lâu thờ các danh tướng và Hai Bà Trưng. Hệ thống di tích vùng Dâu như: Lăng mộ đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ là thờ các bậc Thủy tổ của dân tộc Việt Nam.

Phía Bắc sông Đuống, xưa là phủ Từ Sơn gồm 5 huyện (Võ Giàng, Quế Dương, Đông Ngàn, Tiên Du, Yên Phong), nay là 5 huyện thị (Từ Sơn, Tiên Du, Yên Phong, Quế Võ và thành phố Bắc Ninh). Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” đã ghi chép như sau: “Phủ Từ Sơn ở giữa Kinh Bắc, địa thế bề ngang kéo dài. Làng Cổ Pháp là đất thang mộc thời Lý, khí thiêng của đất chung đúc, lăng cũ của tám vị vua nhà Lý um tùm thành rừng. Về cảnh núi sông thì có Tiêu Sơn, núi Phật Tích, núi Phả Lại, núi Lãm Sơn, núi Châu Sơn, sông Nguyệt Đức, sông Thiên Đức…”). Núi Tam Sơn (Từ Sơn) được sách “Đại Nam nhất thống chí” ví như những hạt “minh châu” nổi lên giữa ruộng đồng bờ bãi; nơi sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước. Vùng đất này, có nhiều dãy núi (Hàm Sơn, Lãm Sơn, Tam Sơn, Tiêu Sơn, Bát Vạn Sơn, Phật Tích, Lim…) và những dòng sông cổ (Ngũ Huyện Khê, Tiêu Tương, Tào Khê) xen kẽ giữa đồng ruộng phì nhiêu mầu mỡ. Những con sông, dòng chảy cổ trên đã tạo điều kiện cho các làng xã quanh đấy phát triển nghề nông trồng lúa màu, các nghề thủ công sắt, dệt, gốm, mộc, nề, giấy dó như: sắt Đa Hội; cày bừa Đông Xuất; dệt tơ tằm và vải Lũng Giang, Nội Duệ, Duệ Đông, Tiêu, Hồi Quan, Tam Tảo, Xuân ổ; mộc chạm khắc Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc, Kim Thiều, Khúc Toại, Trà Xuyên; sơn mài Đình Bảng, Nội Trì, Phù Dực; giấy dó Đống Cao, Bùi Xá; nề xây dựng Nội Duệ, Vĩnh Kiều; đúc gang (Nội Trà), đúc nhôm (Mẫn Xá), nấu rượu (Quan Đình)… Đó còn là vùng đất khoa bảng nổi tiếng như: làng Tam Sơn có tới 17 vị đại khoa và có đủ Tam Khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa); làng Hương Mạc có 11 vị đại khoa, trong đó 1 Trạng nguyên, làng Vĩnh Kiều có 10 vị đại khoa, trong đó 2 Thám hoa; làng Phù Chẩn có 10 vị đại khoa, trong đó 2 Trạng nguyên; làng Phù Khê có 16 Tiến sĩ; làng Kim Thiều có 9 vị đại khoa, làng Trang Liệt có 8 vị đại khoa; làng Cẩm Giang có 5 vị đại khoa. Và chính vùng đất địa linh này đã sinh ra các nhà yêu nước cách mạng tiền bối kiệt xuất như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ.

Đặc biệt, vùng đất các làng xã (Đình Bảng, Tân Hồng, Tương Giang), xưa thuộc châu Cổ Pháp, có sông Tiêu Tương chảy qua, có thế đất “Rồng chầu” và có huyệt “Đế vương” là quê hương phát tích nhà Lý. Nơi đây từng là trung tâm kinh tế, văn hóa, tôn giáo; có nhiều chùa tháp cổ như Cổ Pháp, Kim Đài, Minh Châu, Tiêu, Trường Liêu, Tam Sơn từng là trung tâm Phật giáo với nhiều sư tăng nổi tiếng trụ trì. Chùa Tiêu trên núi Quốc sư Lý Vạn Hạnh trụ trì, nuôi dạy Lý Công Uẩn thuở ấu thơ. Chính vùng đất địa linh nhân kiệt này đã sinh ra Lý Công Uẩn người có công dựng lập lên vương triều Lý và khai mở nền văn minh Đại Việt. Dọc đôi bờ Tiêu Tương còn là quê hương của những làng Quan họ gốc nổi tiếng như: Lũng Giang, Lũng Sơn, Tam Sơn, Hiên Ngang, Hoài Thị, Hoài Bão, Khúc Toại, Trà Xuyên, Bùi Xá, Đào Xá, Đặng Xá, Dương ổ, Xuân ổ, Hòa Đình, Bồ Sơn, Khả Lễ, Đọ Xá, Đặng Xá, Viêm Xá, Thượng Đồng, Thụ Ninh… Làng Viêm Xá được tôn vinh là đất Thủy tổ Quan họ.

Phía Nam sông Đuống, xưa là phủ Thuận An gồm 5 huyện (Gia Lâm, Siêu Loại, Lương Tài, Gia Định, Văn Giang), nay là 3 huyện (Thuận Thành, Gia Bình, Lương Tài). Vùng đất này, ngoài trung tâm Dâu-Luy Lâu, còn có dãy núi Thiên Thai, những con sông cổ như: Bái Giang, Nghi Tuyền, Nghi Khúc… Dãy núi Thiên Thai và các con sông trên đã tạo điều kiện cho các làng xã quanh đấy phát triển nghề nông, nghề thủ công, giao lưu buôn bán. Đây là vùng đất của các làng nghề thủ công truyền thống nổi tiếng: Nghi Khúc (Bưởi Cuốc), Đại Bái (Bưởi Nồi), Đoan Bái (Bưởi Đoan), Ngọc Xuyên (Bưởi Xuyên)… Đó còn là vùng đất của các nhà khoa bảng, các danh nhân nổi tiếng: Làng Thổ Lỗi xưa là quê hương của Nguyên phi ỷ Lan, là vợ của vua Lý Thánh Tông, là mẹ của vua Lý Nhân Tông. Cuộc đời của bà gắn liền với hai vị vua anh minh triều Lý, hai lần nhiếp chính thay chồng và con lo việc giang sơn như: chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi, phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục và giàu lòng yêu thương nhân dân. Thuộc dãy núi Thiên Thai, thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu là quê hương của “Trạng nguyên” Thái sư Lê Văn Thịnh: Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác học, Lê Văn Thịnh thi đỗ đầu, thăng đến chức Thái sư. Ông là người tài cao đức trọng có nhiều công lao với dân với nước, nên đã được nhiều làng xã thờ làm Thành hoàng làng. Đó còn là tên tuổi hàng trăm các nhà khoa bảng, danh nhân tài cao đức trọng các làng xã của huyện Gia Bình (Đại Bái, Nhân Thắng, Đại Lai, Bình Dương, Quỳnh Phú, Song Giang), huyện Lương Tài (Phú Lương, Trung Chính, Thứa, Trừng Xá, Trung Kênh, Phú Hòa, Lâm Thao, Bình Định, Quảng Phú, An Thịnh…).

Bắc Ninh-Kinh Bắc nằm ở trung tâm châu thổ sông Hồng, có núi sông hùng vĩ, ruộng đồng bờ bãi phì nhiêu, là đất “địa linh nhân kiệt” sinh ra nhiều nhân tài cho quê hương, đất nước. Phát huy địa thế của quê hương, truyền thống của ông cha, các thế hệ người Bắc Ninh luôn chịu khó, hay làm, hiếu học, yêu nước, đánh giặc và đã góp phần lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Chính vì vậy, vùng đất này đã được sử sách ca ngợi là “cái nôi” hình thành và phát triển lịch sử-văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Th.s Đỗ Thị Thủy
(Ban Quản lý di tích tỉnh)

Tuesday, May 6, 2014

Phát hiện thêm bia đá cổ nhất Việt Nam tại Bắc Ninh

Thứ sáu, 29/11/2013 - 09:03

Phát hiện thêm bia đá cổ nhất Việt Nam tại Bắc Ninh

Tấm bia hiện nằm tại nghè thôn Thanh Hoài, xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, được phát hiện tháng 10-2013.

Kết cấu của bia gồm 2 phần: thân bia và đế bia; thân bia được tạo tác bởi một phiến đá lớn, phần đầu bia được đục vát hai đầu thành hình tam giác tạo thành trán bia, hiện đã bị vỡ làm đôi; đế bia là một khối đá hình hộp chữ nhật nhìn rất đồ sộ. Nếu bia vẫn còn nguyên vẹn như ban đầu thì kích thước của nó như sau: Phần thân bia (chiều cao: xấp xỉ 200cm; chiều rộng: xấp xỉ 100cm; chiều dày: 15 cm); Phần đế bia (Chiều dài: 136 cm; chiều rộng: 100cm; chiều cao: 30cm). 
  
Theo lời kể của nhân dân địa phương thì trước đây bia vẫn còn nguyên vẹn, chỉ có một vết nứt chéo ngang thân bia, vào năm 1967 máy bay ném bom của Mỹ bị rơi trúng địa phận thôn Thanh Hoài, cách vị trí bia hiện nay khoảng 300 m theo đường chim bay, chuyên gia tháo gỡ bom mìn đến tháo gỡ những quả bom còn chưa nổ còn sót lại trong lòng đất đã quyết định cho nổ hết số bom đó. Bởi sự chấn động mạnh khi cho nổ bom khiến cho tấm bia bị vỡ làm đôi như hiện nay. 
 
Qua khảo sát chúng tôi thấy số chữ còn lại ở cả 2 mặt bia là khá khiêm tốn, khoảng gần 300 chữ, mỗi mặt lại được viết theo một lối chữ khác nhau. Mặt thứ nhất có dòng niên đại Kiến Hưng nhị niên (314) còn khoảng 120 chữ được viết theo phong cách Lệ thư; mặt thứ hai có niên đại Tống Nguyên Gia chấp thất niên (450) còn khoảng 150 chữ được viết theo phong cách Khải thư, nét chữ ở cả 2 mặt đều được khắc sâu và rõ nét. Bởi số chữ còn lại rất ít và không liền mạch, nên chúng tôi dựa vào những con chữ ghi chép về địa danh, về nhân vật, cùng với những ghi chép của chính sử để cố gắng khôi phục lại nội dung và tìm ra những vấn đề liên quan. Để tiện theo dõi chúng tôi quy ước văn bia chia làm 2 mặt: mặt thứ nhất (mặt có dòng ghi niên đại Kiến Hưng nhị niên); mặt thứ 2 (có dòng ghi niên đại Tống Nguyên Gia chấp thất niên). 
 
Mặt thứ nhất: 
  
Vốn dĩ ở mặt này phần lòng văn được khắc chữ khá dài nhưng qua thời gian quá dài (khoảng 1699 năm), mặc dù với chất đá tốt, nét chữ sâu nhưng cũng không tránh được bong chóc làm tổn hại bề mặt bia nên số lượng chữ còn lại ít và không liền mạch như trên đã trình bày. Qua khảo sát, chúng tôi thấy bố cục lòng văn được chia làm 4 phần: tiêu đề chính; phần ghi lai lịch nhân vật được nhắc đến trong bia; phần bài minh và phần ghi dòng niên đại ở cuối cùng. 
 
Tiêu đề chính được ghi trên trán bia với 2 dòng chữ to: “TẤN(?) CỐ SỨ TRÌ TIẾT QUÁN QUÂN TƯỚNG/ [QUÂN] GIAO CHÂU MỤC ĐÀO LIỆT HẦU BI” (Văn bia ghi chép về Trì tiết Quán quân tướng quân (?) Giao Châu mục Đào liệt hầu nước Tấn). Qua tiêu đề của văn bia chúng ta biết được đây là văn bia ghi chép về nhân vật Đào Hoàng, từng làm Thứ sử Giao Châu. Đào Hoàng tự là Thế Anh, không rõ năm sinh, chỉ biết mất năm 300. (Do khuôn khổ một bài báo, không thể nêu chi tiết nội dung chúng tôi sẽ đề cập đầy đủ trong một dịp khác). 
 
Ở dòng cuối cùng của mặt bia này chúng tôi thấy có ghi dòng chữ “Kiến Hưng nhị niên cửu nguyệt nhâm…” (tháng 9 niên hiệu Kiến Hưng năm thứ 2). Chúng tôi cho rằng đây chính là dòng ghi niên đại dựng bia, bởi đây là dòng chữ cuối cùng của mặt bia, bên cạnh dòng chữ này chúng tôi không thấy có dấu hiệu khắc thêm chữ. Về niên hiệu Kiến Hưng, theo khảo sát của chúng tôi thì từ sau năm Đào Hoàng mất (năm 300) cho đến nhà Tiền Lương thì có tới 7 lần niên hiệu Kiến Hưng được sử dụng. Trong vòng 57 năm (304 - 361) có đến 7 lần sử dụng niên đại Kiến Hưng, vậy thì niên đại Kiến Hưng được nhắc đến trong bia là niên đại nào? 
  
Giả thuyết thứ nhất, nếu theo logic về mặt thời gian thì niên hiệu Kiến Hưng của nhà Thành Hán là tương đối hợp lý, bởi theo niên đại này thì niên hiệu Kiến Hưng nhị niên sẽ là năm 305, tức 5 năm sau khi ông qua đời. 
  
Giả thuyết thứ hai, theo chúng tôi thì đây là niên hiệu của Tấn Mẫn Đế (313 - 317) vì sau khi Đông Ngô hàng Tây Tấn thì Đào Hoàng lại trở thành đại tướng dưới triều đại này. Nếu tính từ khi ông mất cho đến niên đại Kiến Hưng thứ 2, tất cả là 14 năm (từ năm 300 đến năm 314), cũng không phải là khoảng thời gian quá lâu cho việc dựng bia. 
  
Thêm vào đó, trên tiêu đề được ghi ở trán bia: “TẤN(?) CỐ SỨ TRÌ TIẾT QUÁN QUÂN TƯỚNG [QUÂN] GIAO CHÂU MỤC ĐÀO LIỆT HẦU BI” (Chữ TẤN chỉ còn bộ VIẾT phía dưới, chữ QUÂN trong ngoặc đứng mất hẳn, đọc theo vị trí chữ và chức phong của nhà Tấn cho Đào Hoàng trong Tấn thư). Với những cứ liệu trên, chúng tôi cho rằng dòng niên đại được nhắc đến trong bia rất có thể là niên hiệu của Tấn Mẫn Đế, tức niên hiệu Kiến Hưng nhị niên (314).
  
Mặt thứ 2: 
 
Ở mặt bia này không thấy khắc tiêu đề chính trên trán bia mà chỉ thấy khắc phần nội dung. Căn cứ vào bố cục trình bày chúng tôi thấy toàn bộ phần nội dung được khắc thành 8 dòng, gồm khoảng hơn 160 chữ, số chữ có thể đọc được khoảng gần 150 chữ, còn lại là những chữ bị mất. Chúng tôi cho rằng đây là một bài văn bia hoàn chỉnh, có nội dung ghi chép về việc tu sửa công trình thờ tự viên tướng Đào Hoàng từng cai trị đất Giao Châu. 
 
So với tấm bia tháp xá lợi có niên đại 601 mà nhân dân xã Trí Quả, huyện Thuận Thành đã hiến tặng cho bảo tàng tỉnh Bắc Ninh hồi năm trước (2012) thì tấm bia đá ở nghè thôn Thanh Hoài (nêu trên) là tấm bia có niên đại sớm hơn, nhưng đáng tiếc bia này lại bị vỡ làm đôi, chữ khắc ở 2 mặt bia đã mờ và mất nhiều. Qua khảo sát bước đầu chúng tôi mới thấy được nội dung ghi chép về thân thế sự nghiệp của nhân vật lịch sử Đào Hoàng, là một viên tướng của Trung Quốc, sống dưới hai triều Đông Ngô và Tây Tấn, từng cai trị nhiều năm ở xứ Giao Châu. Mặc dù tấm bia này giờ đã bị vỡ làm đôi, chữ khắc ở hai mặt đã bị mờ và mất nhiều nhưng nó vẫn có giá trị tiêu biểu dưới góc độ “bảo tàng”.

Lê Viết Nga - Nguyễn Phạm Bằng