Wednesday, January 22, 2014

Tết Việt Nam và phong tục ngày Tết

TẾT VIỆT NAM VÀ PHONG TỤC NGÀY TẾT PDF Print E-mail

                
Tết Nguyên Đán ở Việt Nam
 
Tết Nguyên Đán hay còn gọi là Tết Cả, là lễ hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất, từ Nam Quan đến Cà Mau và cả vùng hải đảo, tưng bừng và nhộn nhịp nhất của dân tộc. Từ những thế kỷ xa xưa thời Lý, Trần, Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
 
Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, mà phần “lễ” cũng như phần “hội” đều rất phong phú cả nội dung cũng như hình thức, mang một giá trị nhân văn sâu sắc và đậm đà.
 
Việc ông cha ta xác định Tết Cả đúng vào thời điểm kết thúc một năm cũ, mở đầu một năm mới theo âm lịch, là một chu kỳ vận hành vũ trụ, đã phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người với thiên nhiên (Đất-Trời-Sinh vật), chữ NGUYÊN có nghĩa là bắt đầu, chữ ĐÁN có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, Tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ, thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ tri ơn ông bà, tổ tiên.
 
Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Tết – do tiết (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông – có một ý nghĩa đặc biệt đối với một xã hội mà nền kinh tế vẫn còn dựa vào nông nghiệp làm chính. Theo tín ngưỡng dân gian bắt nguồn từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì”, người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ đến các vị thần linh có liên quan đến sự được, mất của mùa màng như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước, thần Mặt trời… người nông dân cũng không quên ơn những loài vật, cây cối đã giúp đỡ, nuôi sống họ, từ hạt lúa đến trâu bò, gia súc, gia cầm trong những ngày này.
 
Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trước hết đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có tục hằng năm mỗi khi Tết đến, dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả những người xa xứ cách hàng ngàn kilômét, vẫn mong được trở về sum họp dưới mái ấm gia đình trong 3 ngày Tết, được khấn vái trước bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà thờ, ngôi mộ, giếng nước, mảnh sân nhà, nơi mà gót chân một thời bé dại đã tung tăng và được sống lại với bao kỷ niệm đầy ắp yêu thương ở nơi mình cất tiếng chào đời. “Về quê ăn Tết”, đó không phải là một khái niệm thông thường đi hay về, mà là một cuộc hành hương về nơi cội nguồn, mảnh đất chôn nhau cắt rốn.

Theo quan niệm của người Việt Nam, ngày Tết đầu xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho cả xã hội: tình gia đình, tình thầy trò, con bệnh với thầy thuốc, ông mai bà mối đã từng tác thành đôi lứa, bè bạn cố tri, con nợ và chủ nợ…
 
Tết cũng là dịp “tính sổ” mọi hoạt động của một năm qua, liên hoan vui mừng chào đón một năm với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng. Nhưng rõ nét nhất là không khí chuẩn bị Tết của từng gia đình. Bước vào bất cứ nhà nào trong thời điểm này, cũng có thể nhận thấy ngay không khí chuẩn bị Tết nhộn nhịp và khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về… Đối với các gia đình lớn, họ hàng đông, có quan hệ xã hội rộng, đông con cháu, dâu rể, thì công việc chuẩn bị càng phức tạp hơn.
 
Theo tập tục, đến ngày 23 tháng chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về trời để tâu việc trần gian, thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghỉ việc sau lễ “Phất thức” (tức lễ rửa ấn, rửa triện). Ở cấp triều đình, trong lễ nầy có sự hiện diện của nhà vua, các quan đều mặc phẩm phục uy nghiêm. Xem thế đủ biết rằng ngày tết được coi trọng như thế nào.

Sau đó, các quan cất vào tủ, niêm phong cẩn thận. Không một văn bản nào được kiềm ấn, mọi pháp đình đều đóng cửa. Con nợ không thể bị sai áp, các tội tiểu hình không bị trừng phạt, tội nặng thì giam chờ đến ngày mồng 7 tháng giêng (lễ khai hạ) mới tiến hành giải quyết. Như vậy, Tết Cả kéo dài từ ngày 23 tháng chạp (một tuần trước giao thừa) đến mồng 7 tháng giêng (một tuần sau giao thừa).
 
Không biết Tết cổ truyền của dân tộc xuất hiện từ bao giờ, nhưng đã trở nên thiêng liêng, gắn bó trong tâm hồn, tình cảm của mỗi người dân Việt Nam. Những tục lệ trò vui trong dịp Tết, chiếc bánh chưng xanh, mâm ngũ quả trên bàn thờ gia tiên, cành đào, chậu quất khoe sắc trong mỗi gia đình đã trở thành một phần hình ảnh của quê hương để mỗi người Việt Nam dù sống ở nơi đâu mỗi độ xuân về lại bồi hồi nhớ về đất nước với bao tình cảm nhớ nhung tha thiết. Làm sao quên được thuở ấu thơ cùng đám trẻ con ngồi vây quanh nồi bánh chưng sôi sùng sục chờ giờ vớt bánh! Làm sao có thể quên được những phiên chợ Tết rợp trời hoa!
 
                         
Ngày Tết chính thức bắt đầu từ giao thừa. Đây là thời điểm thiêng liêng nhất trong năm, thời điểm giao tiếp giữa năm cũ và năm mới, thời điểm con người giao hòa với thiên nhiên, Tổ tiên trở về sum họp với con cháu. Cúng giao thừa xong cả nhà quây quần quanh mâm cỗ đã chuẩn bị sẵn, uống chén rượu đầu tiên của năm mới, con cái chúc thọ ông bà cha mẹ, người lớn cho trẻ em tiền quà mừng tuổi đựng trong những bao giấy đỏ.

Sau lễ giao thừa còn có tục đi đến đền chùa làm lễ sau đó hái về một nhánh cây đem về gọi là hái Lộc, hoặc đốt một nén hương rồi đem về cắm trên bàn thờ gia tiên gọi là Hương Lộc. Họ tin rằng xin được Lộc của trời đất thần Phật ban cho thì sẽ làm ăn phát đạt quanh năm. Sau giao thừa người nào từ ngoài đường bước vào nhà đầu tiên là người “xông nhà”, là người “tốt vía” thì cả nhà sẽ ăn nên làm ra, gặp nhiều may mắn, vì vậy người xông nhà thường được chọn trong số những người bạn thân.
 
Tết là dịp để con người trở về cội nguồn. Ai dù có đi đâu xa vào ngày này, cũng cố trở về quê hương để được sum họp với người thân dưới mái ấm gia đình, thăm phần mộ tổ tiên, gặp lại họ hàng, làng xóm. Ngày Tết cũng làm cho con người trở nên vui vẻ hơn, độ lượng hơn. Nếu ai có gì đó không vừa lòng nhau thì dịp này cũng bỏ qua hết để mong năm mới sẽ ăn ở với nhau tốt đẹp hơn, hoà thuận hơn. Có lẽ đó là ý nghĩa nhân bản của Tết Việt Nam.
 
Source Cỏ Thơm

Friday, January 17, 2014

Liên hệ họ hàng với Ông Phan Tự Ngôn‏ - Đinh Văn Thắng

From: Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Thu 1/16/14 6:59 PM
To: Thuc Dinh (dthuc@live.com)

Thắng mới vô Blog KYDV, thấy có mục thư mời các chi họ khác trong làng Dũng Vy. Thật là đáng mừng, để sau này còn biết thêm họ hàng xa gần. Thắng sẽ cố gắng thực hiện lại cuốn Gia Phả bên chi họ Đinh bên ngành của Bố Thắng (Đinh Văn Đột) rồi gửi cho Thức sau nhé.

Tiện đây Thắng cho Thức biết sự liên hệ của Thức và Cậu Ngôn để tránh chuyện hiểu lầm và tránh những chuyện không may xảy ra. Ông ngoại của Thức, và ông ngoại của Thắng và Bố Cậu Phan Tự Ngôn là anh em con chú con bác, tức là Bà Phan Thị Yêm (Mẹ của Thắng), bà Phan Thị Xin (Mẹ của Thức) và ông Phan Tự Ngôn là cháu Chú cháu Bác. Bố của Cậu Ngôn là bé nhất, do đó Thắng và Thức đều gọi ông Phan Tự Ngôn bằng "Cậu Ngôn".

Rất tiếc là Ông Ngôn không tự giới thiệu mình là ai để Thức biết đường xưng hô như Thức đã trình bày. Cậu Ngôn năm nay đã 78 tuổi ta. Thua Bố Mẹ của Thắng và Thức cả hơn một con giáp. Thắng chưa có dịp gặp Cậu Ngôn, nhưng được Mẹ kể về Cậu Ngôn nhiều lần, và cũng nói chuyện ĐT dăm ba lần. Thức có thể hỏi Dì Cuông để xác minh sự liên hệ họ hàng. Nhớ hỏi là Cậu Ngò (sau này đổi tên là Phan Tự Ngôn). Còn Gia phả họ Phan, Thắng đang yêu cầu Cậu Ngôn thành lập và hỏi thêm ý kiến của Mẹ Thắng và Mẹ Thức, vì hai bà còn minh mẫn lắm, còn Dì Chỉ thì đã yếu nhiều rồi, và không còn minh mẫn như Bà Yêm và Bà Xin nữa. 

Talk to you later.
Thắng
-----------

From: Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Sent: Fri 1/17/14 10:43 AM
To: Thang Tony Dinh Van (todi_1999@yahoo.com)

Hi Thắng

OK. Khi nào xong gia phả thì cứ gởi cho Thức. Nếu các tộc họ trong làng đều có gia phả thì hay quá (có khi anh em đánh nhau vỡ đầu mà không biết).

Hồi nào tới giờ không nghe ai nói về ông Ngôn nên Thức không biết. 78 tuổi là đã già lắm mà vẫn còn thích "nói chuyện chơi". Cho Thức gởi lời vấn an sức khỏe. Hy vọng ông sẽ thực hiện gia phả Họ Phan để đồng hương có thể hiểu biết thêm về Dũng Vi và những liên quan họ hàng gần xa.

Bye. See U.
Thức Đ.

Thursday, January 16, 2014

Gia phả các tộc họ trong làng Dũng Vi

Thưa quý đồng hương

Qua ý kiến đóng góp của ông Phan Tự Ngôn về gia phả. Trong làng Dũng Vi còn có nhiều chi họ ngoài họ Đinh (ngay cả họ Đinh cũng có nhiều chi).

Nếu quý vị đồng hương Dũng Vi muốn phổ biến thêm những gia phả của các tộc họ trong làng, xin gởi về Blog KYDV qua Email dthuc@live.com - Blog KYDV sẽ rất hân hạnh phổ biến để quý đồng hương cùng rõ.

Blog KYDV

Wednesday, January 15, 2014

Hình ảnh xưa: Di cư vào Nam 3 September 1954

Phi trường Gia Lâm

Operation Passage to Freedom, October 1954 đi tìm tự do



Hình chụp vào tháng 9 năm 1954 với một số người Bắc di cư trên tàu USS Bayfield khi tàu vừa cặp bến Saigon. Sau Hiệp Định Geneve, tàu USS Bayfield là một trong những vận-chuyển hạm của Hải Quân Hoa Kỳ được giao phó nhiệm vụ chở người tị nạn từ Bắc vào Nam. (HÌNH ẢNH: Trung Tâm Quân Sử Hải Quân Hoa Kỳ).

Hình chụp tại Saigon vào tháng 10 năm 1954 trong một trại định cư với hàng trăm căn lều. Lúc đó, một trong những trại định cư lớn nhất ở Saigon là trại Phú Thọ. Lều được thiết lập tại Quận 10 sát bên trường đua Phú Thọ. Trại này có lúc đã chứa đến 10,000 người di cư. (HÌNH ẢNH: VNCTLS sưu tầm).

Mời xem tiếp tại: Bald Eagle Blog "Từ Hà Nội đến Sài Gòn 1954-1975"

Tuesday, January 14, 2014

Vài nhận xét về Website "Kỷ Yếu Dũng Vy" - Phan Tự Ngôn

From:Ngon Phan (ngonphan@ymail.com)
Sent:Tue 1/14/14 3:47 AM
To: dthuc@live.com (dthuc@live.com)
 
Dear Thuc,
 
I'd like to send you some constructive ideas. Please take your time to read those and think. Thanks.
 
Trước hết cám ơn Đinh Thức đã cống hiến website “Kỷ-Yếu Dũng-Vy” cho bà con Dũng-Vy ở cả hai miền Nam Bắc tại quê nhà cũng như ở hải ngoại. Tuy nhiên, xin có vài nhận xét xây dựng sau đây:

1. Giới thiệu quê hương cho thế hệ mai sau thuộc quê Dũng-Vy thì phải là nơi thông tin (information) cho biết tổng quát về nơi đó thuộc nhiều mặt.

2. Nói về người làng Dũng-Vy thì phải đề cập đến nhiều người và nhiều chi họ chứ không phải chỉ có cụ Xếp, cụ Thơ Thành (hay Thơ Sành) và ông Đinh Văn Diệm và họ Đinh

3. Về văn hoá, có thể giới thiệu chung cho cả vùng và những điểm văn hoá đặc biệt của riêng tỉnh Bắc Ninh như “Hát Quan Họ” thì phải do các tác giả viết theo chiều hướng khách quan, chứ không nên sao chép hoặc trích đăng bài thuộc chế độ hiện tại, vì như thế là trực tiếp hay gián tiếp tuyên truyền và xây dựng cho chế độ ấy. Nói thẳng ra là website vô hình chung đang tuyên truyền cho chế độ Cộng Sản bán dân hại nước mà chúng ta cần phải tranh đấu và đang tiếp tay với bà con trong nước đấu tranh để huỷ diệt nó. 

Trên đây là vài nhận xét xây dựng và mong rằng có nhiều người đọc khác đóng góp thêm và cũng yêu cầu Đinh Thức hãy ghi nhận và chỉnh đốn vấn đề đăng tải bài vở cho phù hợp với ý nguyện vọng của người đọc.

Ô. Phan Tự Ngôn
-----------

From:Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Sent:Tue 1/14/14 11:30 AM
To: Ngon Phan (ngonphan@ymail.com)

Chào Ô. Ngôn

Cám ơn ông đã Email cho Blog KYDV.

Hơi bất ngờ khi nhận được Email của ông (thực sự tôi chưa được hân hạnh gặp ông và cũng không biết tuổi tác, địa vị của ông và rất tiếc ông cũng không tự giới thiệu vài hàng cho tôi được biết), vì mấy năm nay chẳng có ai Email hay đóng góp ý kiến, bài vở gì cho Blog KYDV cả, cho đến vài tháng nay mới có sự góp mặt của các bác, chú và vài người trong làng (có lẽ vì chưa biết Blog KYDV).

Thưa ông

Qua ý kiến của ông. Tôi không có nhiều thời giờ nhưng cũng xin có vài ý kiến vắn tắt sau đây:

1. Blog KYDV là nơi nói về Làng Dũng Vi (nay là Tri Phương, Tiên Du, Bắc Ninh). Gồm những bài viết tự nguyện của nhiều người có chuyên môn và không chuyên môn (thậm chí không biết chữ) cho nên không được toàn hảo. Chúng tôi cũng đang xây dựng thêm mỗi ngày. Cá nhân tôi làm Blog này cũng chỉ vì là hậu duệ Dũng Vi, muốn phổ biến và tìm hiểu thêm về quê cha, đất tổ.
 
Blog KYDV không nhận được bất cứ một đồng tiền tài trợ nào của bất cứ ai (trong và ngoài nước), cho nên cũng không cần thiết phải phục vụ cho bất cứ ai. Cá nhân tôi cũng không chịu áp lực từ bất cứ ai, ngoài ý muốn của thân mẫu là cho con cháu hiểu biết thêm về quê cha, đất mẹ. Mong ông hiểu nhiều hơn những gì tôi muốn nói...

2. Blog cũng muốn đăng nhiều bài viết về nhiều người, nhiều chi họ, nhiều những gì liên quan đến Dũng Vi, nhưng rất tiếc chúng tôi không có thời giờ và điều kiện để làm và cũng không nhận được bài viết gì nhiều từ bạn đọc, ngoài những bài viết từ các tập KYDV và trích đăng những thông tin liên quan từ nhiều nguồn khác nhau...

3. Nói về văn hóa của một đất nước hơn 4000 ngàn năm lịch sử với mấy chục triều đại và chế độ cùng những thăng trầm dâu bể không phải là công việc dễ dàng... Riêng về Quan họ đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của cả nhân loại, thì tôi nghĩ có trích đăng những bài viết về Quan họ thì cũng không có gì là đáng tiếc cả... Nếu ông hoặc những tác giả khác trong hoặc ngoài nước có những bài viết hay về Quan họ thì tôi cũng sẽ tìm đọc và trích đăng (Share), chẳng cứ gì phải của chế độ nào cả (cá nhân tôi không ăn lương của ai nên không làm công việc tuyên truyền cho ai).

Và cuối cùng, nếu ông thấy không bằng lòng với Blog KYDV này, ông có thể làm một Website khác theo như ý ông và cho tôi biết địa chỉ để cùng xem. Tôi không làm theo ý của riêng ai và cũng chẳng cần thiết phải ghi nhận hay chỉnh đốn theo ý của ai cả, thưa ông. 

Tôi cũng xin lỗi bạn đọc vì không thể hiểu hết nguyện vọng của bạn đọc, nên cũng không thể chiều theo ý của bạn đọc được. Mong bạn đọc thông cảm.

Blog KYDV - Đinh Tất Thức

Tuesday, January 7, 2014

Quá trình thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh (Tiếp theo kỳ trước)

Thứ hai, 22/03/2010 - 13:47
 
Quá trình thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh
 
(Tiếp theo kỳ trước)

Huyện Tiên Du

Theo “Đại việt sử ký toàn thư”, tên huyện Tiên Du có từ thời Trần (thế kỷ XIII). Thời thuộc Minh (1414 - 1427) huyện Tiên Du thuộc châu Vũ Ninh. Bắt đầu từ thời Lê (1428), huyện Tiên Du thuộc phủ Từ Sơn. Theo sách “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, thì đầu thế kỷ XV, huyện Tiên Du có 52 xã. Đến thời Lê Thánh Tông (1490), huyện có 52 xã. Thời Gia Long (1802 – 1819) huyện có  9 tổng với 52 xã:

1. Tổng Phù Đổng có 3 xã: Phù Đổng, Phù Ninh, Đổng Xuyên.
2. Tổng Dũng Vi có 3 xã: Dũng Vi, Trung Mầu, Thịnh Lân.
3. Tổng Đại Vi có 4 xã: Đại Vi, Đại Vi Thượng, Đại Vi Trung, Dương Húc.
4. Tổng Đông Sơn có 5 xã: Đông Sơn, Đại Sơn, Đồng Lạng, Long Khám, Dưỡng Mông.
5. Tổng Thụ Triền có 7 xã thôn: Thôn Triền thuộc xã Thụ Triền, Thụ Triền (gồm 2 thôn Phù Lập Thượng và Phù Lập Trung), Phật Tích, Cổ Miếu, Cao Đường, Vĩnh Phú, Trùng Minh.
6. Tổng Nội Duệ có 10 xã thôn: Nội Duệ, thôn Đông thuộc xã Nội Duệ, thôn Nam thuộc xã Nội Duệ, thôn Khánh thuộc xã Nội Duệ, Hoài Bão (gồm 2 thôn Trung và Thị), Lũng Giang, Bái Uyên.
7. Tổng Khắc Niệm có 8 xã: Khắc Niệm Thượng, Khắc Niệm Hạ, Hiên Ngang, Bồ Sơn, Xuân Ổ, Dương Ổ, Vân Khám, Lai Đình.
8. Tổng Chi Nê có 5 xã: Chi Nê, Chi Nê Nội, Nghĩa Lộ, Tư Vi.
9. Tổng Nội Viên có 7 xã: Nội Viên, An Động, Hoa Hội,  Hộ Vệ, Hương Vân, Nghi Vệ
Các xã:  Nguyễn Xá, Phù Đổng, Văn Trinh năm 1807 phiêu tán, năm 1808 phục hồi.

Đến năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), huyện có 9 tổng với 56 xã, thôn. Đó là các tổng:
1. Tổng Phù Đổng có 4 xã: Phù Đổng, Phù Dực, Đồng Viên, Đổng Xuyên.
2. Tổng Dũng Vi có 3 xã: Dũng Vi, Trung Mầu, Thịnh Lân.
3. Tổng Đại Vi có 4 xã: Đại Vi, Đại Vi Thượng, Đại Vi Trung, Dương Húc.
4. Tổng Đông Sơn có 7 xã: Đông Sơn, Đại Sơn, Đồng Lạng, Long Khám, Dưỡng Mông, Văn Trinh, Đại Tảo.
5. Tổng Thụ Phúc có 8 xã, thôn: Thôn Phúc thuộc xã Thụ Phúc (tên cũ là Thụ Triền, năm 1843 đổi là Thụ Phúc), thôn Phù Lập Trung và thôn Phù Lập Thượng thuộc xã Thụ Phúc, Trùng Minh, Phật Tích, Cổ Miếu, Tam Bảo, Cao Đường, Vĩnh Phú.
6. Tổng Nội Duệ có 10 xã, thôn: Nội Duệ, Nội Duệ Đông, Nội Duệ Nam, Nội Duệ Khánh, thôn Trung và thôn Thị xã Hoài Bão, Lũng Sơn, Lũng Giang, Bái Uyên, Hồi Bão, thôn Thượng xã Hoài Bão.
7. Tổng Khắc Niệm có 8 xã: Khắc Niệm Thượng, Khắc Niệm Hạ, Hiên Đường, Bồ Sơn, Xuân Ổ, Dương Ổ, Vân Khám, Hoà Đình.
8, Tổng Chi Nê có 5 xã: Chi Nê, Chi Nê Nội, Tử Nê, Nghĩa Chỉ, Tư Vi.
9. Tổng Nội Viên có 7 xã: Nội Viên, An Động, Xuân Hội (trước là Hoa Hội, năm 1841 đổi là Xuân Hội), Hộ Vệ, Hương Vân, Nghi Vệ, Tiên Xá (trước là Nguyễn Xá, năm 1852 đổi là Tiên Xá).

Đầu thế kỷ XX, tổng Khắc Niệm được chuyển về huyện Võ Giàng. Sau đó, một thời gian, tổng Khắc Niệm lại được chuyển trả lại cho Tiên Du.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi cấp tổng bị bãi bỏ, đơn vị hành chính cấp xã cũ được gữ nguyên và trực thuộc huyện Tiên Du.

Thực hiện Sắc lệnh số 201 ngày 15 tháng 10 năm 1946 của Chủ tịch Chính phủ,  hai xã Vân Khám và Hiên Ngang thuộc huyện Võ Giàng nay sáp nhập vào huyện Tiên Du.

Năm 1948, các  xã được thành lập trên cơ sở một số làng sáp nhập lại.

Thực hiện NQ của QH khóa II kỳ họp thứ 2  ngày 20 tháng 4 năm 1961, xã Phù Đổng và xã Trung Hưng (sau đổi là Trung Mầu) được chuyển về huyện Gia Lâm (TP Hà Nội).

Ngày 14 tháng 3 năm 1963, Hội đồng Chính phủ ra quyết định số 25/QĐ, nhập 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn thành một huyện, lấy tên là huyện Tiên Sơn. Cũng theo Quyết định này, 2 xã Phú Lâm và Tương Giang của huyện Yên Phong được chuyển về huyện Tiên Sơn và chuyển 2 xã Đông Thọ và Văn Môn của huyện Từ Sơn về huyện Yên Phong (nay là xã Tương Giang thuộc thị xã Từ Sơn).

Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 84-CP hợp nhất huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong thành một huyện lấy tên là huyện Tiên Phong. Nhưng đến ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 17-CP phê chuẩn đề nghị của UBND tỉnh Hà Bắc thôi không hợp nhất huyện Tiên Sơn với huyện Yên Phong.

Ngày 3 tháng 5 năm 1985, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 130-HĐBT về việc điều chỉnh địa giới các huyện Tiên Sơn, Quế Võ và thị xã Bắc Ninh. Theo đó, xã Võ Cường thuộc huyện Tiên Sơn được chuyển về thị xã Bắc Ninh.

Sau khi điều chỉnh địa giới, huyện Tiên Sơn có 26 xã và 1 thị trấn. Đó là các xã: Khắc Niệm, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ, Tân Chi, Phú Lâm, Vân Tương, Liên Bão, Hiên Vân, Việt Đoàn, Minh Đạo, Cảnh Hưng, Nội Duệ, Tương Giang, Hoàn Sơn, Phật Tích, Tri Phương, Tam Sơn, Đồng Nguyên, Tân Hồng, Đại Đồng, Hương Mạc, Phù Khê, Châu Khê, Đồng Quang, Đình Bảng, Phù Chẩn và thị trấn Từ Sơn.

Ngày 10 tháng 12 năm 1998, Chính phủ ban hành Nghị định số 101/1998/NĐ-CP về việc thành lập thị trấn Lim, huyện lỵ huyện Tiên Sơn  trên cơ sở toàn bộ 488 ha diện tích đất tự nhiên và 9.778 nhân khẩu của xã Vân Tương.

Ngày 11 tháng 8 năm 1999 Chính phủ ra Nghị định số 68/1999/NĐ – CP tách huyện Tiên Sơn thành 2 huyện, lấy tên là huyện Tiên Du và huyện Từ Sơn. Tại thời điểm đó, huyện Tiên Du có 10.630,03 ha diện tích đất tự nhiên và 125.157 nhân khẩu, có 16 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 15 xã và 1 thị trấn. Đó là các xã: Khắc Niệm, Hạp Lĩnh, Lạc Vệ, Tân Chi, Phú Lâm, Liên Bão, Hiên Vân, Việt Đoàn, Minh Đạo, Cảnh Hưng, Nội Duệ, Hoàn Sơn, Phật Tích, Tri Phương, Đại Đồng và thị trấn Lim.

Địa giới hành chính của huyện Tiên Du: Đông giáp huyện Quế Võ, Tây giáp huyện Từ Sơn, Nam giáp huyện Thuận Thành và thành phố Hà Nội, Bắc giáp huyện Yên Phong và thành phố Bắc Ninh.

Thực hiện Nghị định số 60/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Yên Phong, huyện Quế Võ, huyện Tiên Du để mở rộng thành phố Bắc Ninh, từ ngày 24 tháng 4 năm 2007, toàn bộ diện tích đất tự nhiên và nhân khẩu của xã Khắc Niệm và xã Hạp Lĩnh (gồm 1.240,45 ha diện tích đất tự nhiên và 14.783 nhân khẩu) được chuyển về thành phố Bắc Ninh.

Đến thời điểm đó, huyện Tiên Du còn lại 9.620,71 ha diện tích đất tự nhiên và 119.721 nhân khẩu; có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Phú Lâm, Nội Duệ, Liên Bão, Lạc Vệ, Hiên Vân, Việt Đoàn, Hoàn Sơn, Phật Tích, Đại Đồng, Minh Đạo, Tri Phương, Cảnh Hưng, Tân Tri và thị trấn Lim.

Từ năm 1832 trở về trước, huyện lỵ huyện Tiên Du đóng tại làng Đông Sơn. Năm 1833, chuyển huyện lỵ về thôn Trung và thôn Thị xã Hoài Bão, chung quanh đắp tường đất, mỗi chiều dài 12 trượng, trồng tre làm lũy, mặt trước mở một cửa hướng Nam. Năm 1963 khi hợp nhất 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn, huyện lỵ đóng tại chân núi Lim xã Vân Tương. Hiện nay, huyện lỵ vẫn đóng ở chỗ cũ (nay là thị trấn Lim).

Đến ngày 01 tháng 4 năm 2009, huyện Tiên Du có 124.497 nhân khẩu, trong đó có 61.498 nam, 62.999 nữ.

Nguyễn Quang khải
(Còn nữa)