Tuesday, December 17, 2013

Xã Tri Phương, Tiên Du, Bắc Ninh trên bản đồ Google mới

Xã Tri Phương, Tiên Du, Bắc Ninh trên bản đồ Google mới với địa danh thôn, xã, chợ và hình ảnh... (Zoom in to view)

Tri Phương lưu giữ nét đẹp truyền thống

Thứ năm, 14/03/2013 - 15:06
 
Tri Phương (Tiên Du) là xã nằm ven dòng sông Đuống, đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, những năm trở lại đây, nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự năng động nhạy bén của cấp uỷ Đảng, chính quyền kinh tế xã hội của Tri Phương có bước chuyển mình tích cực, đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, diện mạo làng quê thay đổi từng ngày nhưng vẫn lưu giữ được nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống.
 
Về đến đầu Tri Phương, qua chợ Ve trù phú thấp thoáng mái đình cong cong của làng Lương, đình làng Lương là di tích lịch sử văn hoá được nhà nước công nhận từ năm 1990, đó là một công trình nghệ thuật lưu giữ nhiều nét kiến trúc cổ của dân tộc. 

Đình làng Dũng Vi, Tiên Du, Bắc Ninh - Photo: KYDV

Theo các cụ cao niên kể lại, đình làng Lương được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ XVIII với những nét chạm khắc đạt đến mức điêu luyện, hiếm có. Nơi đây thờ 3 anh em họ Cao và Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan. Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng 2 âm lịch, nhân dân làng Lương lại tưng bừng mở hội. Hội làng Lương là một trong những lễ hội lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức rước ông đám ra đình, năm nào cũng vậy, làng Lương đều cắt cử một ông đám ra đình để lo việc đèn nhang, thờ cúng Thành Hoàng làng và coi sóc công việc của đình, cũng như đảm nhiệm các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương. Nếu có dịp được đến thăm Lễ hội làng Lương vào đúng ngày nhân dân tổ chức rước ông Đám chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng có chung một cảm giác được quay trở về với cội nguồn với những nghi thức truyền thống mang đậm nét văn hoá Việt. Đi đầu đoàn rước là đội múa Lân của thôn, cờ bay, trống rền hoà lẫn với những nghi lễ làm cho buổi rước đầy linh thiêng, trang trọng. Tiếp nối là dân làng áo the khăn xếp, áo tứ thân, quan họ, áo dài truyền thống theo sau. Nhân dân xem rước dọc 2 bên đường. Đến với Hội làng Lương du khách được thưởng thức nhiều loại hình văn hoá văn nghệ như cải lương, chèo, quan họ, các trò chơi dân tộc đập niêu, đấu vật, cờ tướng... đặc biệt là nghi thức tế lễ, dâng hương diễn ra tại đình làng. 
  
Vào ngày Hội, người làng Lương đều tạm gác lại công việc, sửa mâm lễ cúng thần hoàng làng rồi mời bạn bè, khách phương xa về để gặp gỡ, chung vui. Các ban, ngành, đoàn thể, các hội nghĩa tình, hội bạn, hội phường... đều sửa lễ dâng hương tại đình làng, khi đi lễ ai nấy đều ăn mặc chỉnh tề, đặc biệt là nữ giới đều mặc áo dài truyền thống của dân tộc. Với những gia đình có con cái lấy chồng, lấy vợ xa quê hoặc làm ăn, công tác xa nhà, Tết chưa về kịp thì đến ngày hội làng sẽ tề tựu đông đủ. Không chỉ làng Lương mà các làng trong xã cũng đều có hội làng mang đậm nét văn hoá Việt. 
 
Tri Phương không chỉ được biết đến và nhớ mãi bởi những ngôi đình cổ kính rêu phong với những lễ hội mà còn là một địa phương còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hoá văn nghệ truyền thống. Hiện xã đã và đang duy trì hoạt động thường xuyên các câu lạc bộ dân ca quan họ, câu lạc bộ chèo truyền thống, câu lạc bộ múa lân, đội tuồng... và có nhiều loại hình câu lạc bộ khác đã và đang góp phần duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân. 
  
Người dân Tri Phương yêu say văn nghệ, yêu say những loại hình văn hoá truyền thống của dân tộc. Các loại hình sinh hoạt văn hoá văn nghệ cổ được duy trì chủ yếu là do tự dân, từ những tấm lòng yêu những làn điệu của dân tộc, say nét đẹp của những vũ đạo của nghệ thuật tuồng, nghệ thuật cải lương, nghệ thuật chèo... nên cho dù không có bất cứ sự tài trợ nào nhưng Câu lạc bộ chèo thôn Cao Đình vẫn duy trì hoạt động thường xuyên, tham gia tích cực phục vụ các nhiệm vụ chính trị, văn hoá xã hội, biểu diễn phục vụ nhân dân, tham gia các cuộc thi không chuyên do các cấp, các ngành tổ chức. Câu lạc bộ còn tự biên, tự học, tự rút kinh nghiệm và tự diễn cho bà con xem mà không cần bất cứ sự đãi ngộ nào. Mặc dù không còn đủ diễn viên, không còn đủ nhạc công để có thể diễn trọn một vở diễn nhưng những người còn lại của Câu lạc bộ cải lương, đội tuồng đã từng vang danh một thời ở Tri Phương vẫn họp mặt nhau lại ôn luyện những vở tuồng, vở cải lương cổ, hát cho nhau nghe để khỏi nhớ nghề, để nuôi một hy vọng được góp mình gìn giữ và lưu truyền nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Người ta khó có thể quyên được giọng hát và những vũ đạo tinh xảo của cụ Đinh Thị Thọ, nghệ nhân tuồng cổ năm nay đã gần 90 tuổi. 
 
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỗi giờ, mỗi khắc con người đều bị guồng xoay của cơ chế thị trường cuốn theo thì ở Tri Phương vẫn còn đó những con người, những nét đẹp văn hoá đặc sắc của dân tộc đáng trân trọng. Và cần lắm sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền để những nét đẹp truyền thống ấy được lưu giữ, duy trì, phát triển. 
 
Bùi Thuý
 
Source Bac Ninh Online

Ghi chú: Blog KYDV trích đăng với mục đích tham khảo. Bạn đọc có thể xem tiếp tại trang mạng đính kèm. 

Tuesday, December 3, 2013

Thư cảm ơn của Ban Hành Giáo Dũng Vy 02-12-2013

From: Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Mon 12/02/13 9:14 PM
To:  Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com); Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Cc:  Bui Thi Nguyen (nguyenbt@tanthanhdong.com)

4 attachments (total 1425.5 KB)

Bien nhan213.pdf
THU CAM ON235.pdf
Transfer money II.jpg
View online

Thưa Cậu;

Giáo Xứ Dũng Vy đã nhận tiền đầy đủ và có hồi báo tri ân, cháu gửi Cậu tất cả các văn bản/chứng từ và hình ảnh như Cậu đã yêu cầu ban Mục Vụ làm theo thủ tục như lần trước.

Trong hình có ông Phó Chủ Tịch HĐMV (anh Lễ) và Bà Út (Thủ Qũy) cùng cháu Bùi Thị Nguyên giao tiền. Cháu cám ơn Cậu đã liên lạc ban Mục Vụ GX Dũng Vy để thông báo việc quyên tiền lần này.



Thức;

Làm ơn đăng tất cả những văn bản/chứng từ và hình ảnh lên Blog Kỷ Yếu Dũng Vy để công khai hóa chuyển tiền lần này. Cám ơn Thức nhiều.

Chúc Cậu và Thức luôn an mạnh trong tình thương Chúa Kitô.

Cháu Thắng.

Cell: 214-228-0223

 ----------
 From: Bui Thi Nguyen <nguyenbt@tanthanhdong.com>
To: 'Tony Thang Dinh' <todi_1999@yahoo.com>
Sent: Monday, December 2, 2013 10:32 PM
Subject: FW: THU CAM ON

Kính gửi Chú Thắng

Cháu gửi chú: Thư cảm ơn của Ban Hành Giáo Dũng Vy gửi tới ông bà ân nhân
Chú xem và chuyển tới ông bà Nguyễn Đức Mai giúp cháu nhé.

Cháu gửi chú tấm hình chụp khi cháu bàn giao tiền cho Ban Hành Giáo nữa nhé. (hình chụp bằng điện thoại lại buổi tối nên không rõ lắm)

Cháu cảm ơn chú nhiều.
Chúc cô chú và gia đình luôn an lành và hạnh phúc

Trân trọng

Bùi Thị Nguyên
P. Kế hoạch - Cty Tân Thành Đồng (TNHH)
Đ/c: Cụm CN Tân Hồng - Hoàn Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh
ĐT: 0912.423.159

Tuesday, November 26, 2013

Giáo hạt Bắc Ninh - Giáo xứ Dũng Vi

Giáo hạt Bắc Ninh

Tuesday, May 29, 2012, 23:20

......

Giáo xứ Dũng Vi

Giáo xứ Dũng Vi được hình thành và phát triển từ năm 1887 nhờ vào công lao của Thày Đaminh Tín, ngài đã đỡ đầu và lo việc tòng giáo cho những người đầu tiên trong giáo họ - giáo xứ.
 
Lúc đầu có 12 cụ đại diện cho dân làng đứng ra xin tòng giáo, sau 2 năm (1889) đức cha Lễ đã phê chuẩn thành lập giáo họ Dũng Vi và nhận thánh Giu-se làm Bổn Mạng giáo họ.
 
Trải qua những thăng trầm, giáo họ đã được thánh bổn mạng gìn giữ và chuyển cầu được muôn ơn lành. Đặc biệt là hồng ân có được các chủ chăn từ khi hình thành giáo họ - giáo xứ cho đến nay, nhờ vậy mà giáo họ không ngừng phát triển và thăng tiến về đời sống tâm linh.
 
Từ năm 1887 đến năm 2011 đã có 21 linh mục làm mục vụ tại Dũng Vi, đặc biệt cha Giuse Nguyễn Khắc Mẫn đã có công xây dựng ngôi thánh đường Dũng Vi (1939); Có 14 thày đã về ở và phục vụ giáo họ. Nhờ hồng ân và sự dẫn dắt của các bậc chủ chăn đến nay giáo họ đã có 600 nhân danh với nhiều hội đoàn, bao gồm: Ban hành giáo 5 vị, 50 thành viên dòng Ba Đaminh, 80 thành viên họ gia trưởng, họ mân côi 57 thành viên. Ca đoàn giới trẻ 80 em, đoàn kèn 24 thành viên, đoàn hoa 20 em, đoàn trống trắc 20 em, thiếu nhi Thánh Thể 100 em và 28 em lễ sinh.  Mặc dù còn non trẻ nhưng nhìn trung nếp sống đạo trong giáo xứ tương đối đạo đức và có nét truyền thống. Cha Giuse Trần Bá Hạnh đang là cha quản nhiệm giáo xứ Dũng Vi.
 
.......
 
(một số  phần trong tài liệu này được trích trên website: giadinhbacninh.com)
 
Bắc Ninh ngày 12/8/2011
Trung Tâm Mục Vụ Giáo Phận Bắc Ninh

( Còn tiếp…………..)
 
Ghi chú: Blog KYDV trích đăng phần Giáo xứ Dũng Vi với mục đích tham khảo. Bạn đọc có thể xem tiếp tại trang mạng của Giáo Phận Bắc Ninh đính kèm dưới đây:

Source Giáo Phận Bắc Ninh

Saturday, November 23, 2013

Mộc bản Triều Nguyễn



vanhoaviettv
Published on Jun 3, 2012
 
Mộc bản triều Nguyễn được công nhận di sản thế giới

Mộc bản triều Nguyễn gồm những văn bản Hán - Nôm khắc trên gỗ 200 năm trước và in sách tại Việt Nam, vừa được UNESCO trao bằng di sản tư liệu thế giới.

Cục lưu trữ Nhà nước và Trung tâm lưu trữ quốc gia VI tại Đà Lạt đã tổ chức đón nhận bằng từ Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp quốc (UNESCO) công nhận Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới, hôm 3/1/2010.

Khối lượng tài liệu Mộc bản triều Nguyễn đang lưu trữ tại Đà Lạt rất lớn, gồm 34.618 tấm, với 55.318 mặt khắc. Giới nghiên cứu đánh giá đây là tài liệu có giá trị cao, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam thời cận đại.

Theo Thạc sĩ Phạm Thị Huệ, Giám đốc Trung tâm lưu trữ quốc gia VI tại Đà Lạt, Mộc bản triều Nguyễn được sản sinh chủ yếu trong quá trình hoạt động của Quốc sử quán triều Nguyễn tại Huế. Ngoài ra còn có cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), đưa vào Huế lưu trữ ở Quốc Tử giám dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị. Từ năm 1960, Mộc bản triều Nguyễn cùng với Châu bản, Địch bạ... được chuyển vào Đà Lạt. Việc di chuyển tiến hành rất công phu, cẩn trọng, phải thực hiện tới 3 lần mới hoàn thành.

Nội dung của khối tài liệu này rất phong phú, đa dạng, phản ánh mọi mặt của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn như: lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa giáo dục, tôn giáo - tư tưởng- triết học, văn thơ, ngôn ngữ - văn tự. Tổng cộng có 152 đầu sách với 1.935 quyển.

Thạc sĩ Huệ cho biết, ngoài giá trị đối với lịch sử và văn hóa Việt Nam, tài liệu Mộc bản triều Nguyễn còn có giá trị tìm hiểu lịch sử văn hóa các nước khác như Lào, Cambuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ , Bồ Đào Nha... Đặc biệt, trong khối tài liệu quý giá này có những nội dung khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.

Gỗ dùng làm ván khắc tài liệu Mộc bản triều Nguyễn vừa mền, vừa mịn, được dùng từ gỗ thị, gỗ lê, gỗ táo hay gỗ cây nha đồng. Thớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi. Nét chữ khắc trên tài liệu Mộc bản rất điêu luyện, tinh xảo và sắc nét. Mỗi nét chữ như rồng bay phượng múa, chuyển tải tâm tư, tình cảm và tâm huyết của người thợ khắc in. Mộc bản không chỉ là tài liệu quý có giá trị lịch sử mà còn là một tác phẩm nghệ thuật.