Thursday, March 15, 2012

Núi Thiên Thai (Bắc Ninh)

Núi Thiên thai có hình con rồng uốn lượn 9 khúc (dãy núi này gồm 9 ngọn núi liền nhau), nằm sát sông Đuống, ngọn cao nhất khoảng 150m, hiện nay núi Thiên Thai thuộc 2 xã Song Giang, Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, cách thành phố Bắc Ninh 20 km về phía nam.

Trái núi Thiên Thai được gọi là đầu rồng. Đây là nơi đã sinh ra vị danh nhân đất nước đó là: Thái sư Lê Văn Thịnh. Ngày xưa rừng thông phủ kín núi, trên đỉnh ngọn Thiên Thai có một ngôi chùa cổ trăm gian và một vườn hồng đào, đây là một giống đào đặc biệt, hoa nở thành từng chùm buông xuống như những chiếc đuôi cáo nên mới có cái tên là Hồng đào. Ngày xuân khách lên lễ chùa vãng cảnh vườn đào, dạo chơi rừng thông rồi hướng ra bể đông xem loan phượng ăn xoài.

Tại đây có đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh.

Phát hiện Rồng đá

Một ngày cuối năm 1992, người dân thôn Bảo Tháp, xã Đông Cứu (Gia Bình) dọn gạch vỡ, đá quanh đền thờ Thái Sư Lê Văn Thịnh thấy lộ ra khối đá lớn được đẽo, chạm đường nét tinh sảo, khoét sâu, mở rộng thì thấy lộ nguyên hình đầu rồng. Mọi người dùng đòn tre khiêng, người dùng xà beng, thanh gỗ làm đòn bẩy lên một rồng đá ước chừng 3 tấn được tại sân đền.

Rồng đá được đẽo, chạm miêu tả đầu, hai chân trước và một phần thân. Từ mặt đất lên đỉnh sọ rồng cao 0,76 mét, chiều ngang từ phải sang trái rộng 1,12 mét; chiều dọc từ trước ra sau dài 0,96 mét (xin lưu ý: số đo chia hết cho 8). Rồng được chạm vẩy; tai phải đặc, tai trái rỗng, hai chân trước gân guốc, mỗi chân xòe rộng 5 ngón nắm chặt hai khúc thân kéo vào trước ngực; đầu gục xuống, mắt trợn tròn, miệng há rộng để lộ hàm răng lởm chởm ngoạm khúc thân, quằn quại. Đây là rồng đá to nhất Đông Nam Á và được chạm khắc vào thời Lê [1]


Núi thiên thai và văn học, nghệ thuật

Núi Thiên thai được nhắc nhiều trong các làn điệu dân ca quan họ, ca dao, văn học hiện đại. Trong dân ca quan họ: “Trèo lên trên núi Thiên Thai, thấy chim Loan Phượng ăn Xoài biển đông”. Trong bài thơ Bên kia sông Đuống của nhà thơ Hoàng Cầm:

... Ai về bên kia sông Ðuống
Cho ta gửi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên
Những hội hè đình đám
Trên núi Thiên Thai
Trong chùa Bút Tháp
Giữa huyện Lang Tài
...


Nguồn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Núi Thiên Thai - Quan họ lời cổ - Tốp ca

Chùa Phật Tích & Quỳnh Lâm



Narrator: Prof. Lê Văn Lan

Chùa Phật Tích ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Chùa Quỳnh Lâm ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

Monday, March 12, 2012

Đình Làng ĐÌNH BẢNG - Vẻ đẹp của kiến trúc đình Làng Việt Nam



Thứ nhất là Đình Đông Khang
Thứ nhì Đình Bảng, vẻ vang Đình Diềm

Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh

Tiên Du là một huyện Bắc Ninh nằm ở phía Nam thành phố Bắc Ninh, phía Bắc sông Đuống. Tiên Du tiếp giáp với thị xã Từ Sơn ở phía Tây Nam, Quế Võ ở phía Đông và cũng có tiếp giáp một chút với huyện Yên Phong ở phía Tây (phía Tây xã Phú Lâm tiếp giáp với phía Đông xã Đông Thọ, huyện Yên Phong). Trung tâm hành chính của huyện là thị trấn Lim.

Diện tích và Dân số

Tiên Du rộng 108,2 km². Dân số là 125.100 người (năm 2004). Mật độ dân số là 1157 người/km².

Hành chính

Tiên Du có 14 đơn vị hành chính:

Văn hóa - Lịch sử
  • Theo huyền thoại: Từ Thức từng làm một chức quan nhỏ ở Tiên Du.
  • Tiên Du là trung tâm của vùng dân ca Quan họ.
  • Trong lịch sử, Tiên Du là một trong những trung tâm Phật giáo của Việt Nam.
  • Năm 966: Nguyễn Thủ Tiệp, một người Trung Quốc từng làm thuộc hạ của Ngô Quyền, đến chiếm một vùng ở Tiên Du, xây dựng thành trì, trở thành một trong 12 sứ quân.
  • Năm 1057: Chùa Phật Tích được xây dựng.
  • Thời nhà Nguyễn, huyện Tiên Du thuộc phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc. Từ năm 1831, là huyện của tỉnh Bắc Ninh.
  • Năm 1961, các xã Phù Đổng, Trung Hưng của huyện Tiên Du cùng với huyện Gia Lâm và một số xã của huyện Từ Sơn, Thuận Thành (đều thuộc tỉnh Bắc Ninh) được sáp nhập về Hà Nội[1].
  • Ngày 14/3/1962: sau khi sáp nhập tỉnh Bắc Ninh với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc, huyện Tiên Du cũng được sáp nhập với huyện Từ Sơn thành huyện Tiên Sơn.
  • Ngày 9/8/1999: tái lập huyện Tiên Du.
  • Năm 2007, các xã Khắc Niệm và Hạp Lĩnh của huyện Tiên Du sáp nhập vào thành phố Bắc Ninh[2].
Tiên Du có 14 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, bao gồm:
  • Thị trấn Lim;
  • Các xã: Phú Lâm, Nội Duệ, Liên Bão, Hiên Vân, Hoàn Sơn, Lạc Vệ, Việt Đoàn, Phật Tích, Tân Chi, Đại Đồng, Tri Phương, Minh Đạo, Cảnh Hưng.

Nguồn Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Wednesday, February 29, 2012

Chùa Phật Tích (Xã Phật Tích - Tiên Du - Bắc Ninh)



Chùa Phật Tích (Phật Tích tự 佛跡寺) còn gọi là chùa Vạn Phúc (Vạn Phúc tự 萬福寺) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía Nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên), xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Trong chùa có tượng đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Lịch sử

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ 4 (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý nhưng ngôi chùa vào thời Lý hiện nay không còn nữa, nó đã được phá đi xây dựng mới.

Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, xóm Hỏa Kê (gà lửa) cạnh chùa đổi tên thành thôn Phật Tích.

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy (1686) ca ngợi vẻ đẹp của cảnh chùa: "Đoái trông danh thắng đất Tiên Du, danh sơn Phật Tích, ứng thế ở Càn phương (hướng Nam) có núi Phượng Lĩnh bao bọc, phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh. Phía hữu Bạch Hổ núi ôm, trên đỉnh nhà khai bàn đá..."

Năm 1071, vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 m, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Bà Nguyên phi Ỷ Lan có đóng góp quan trọng trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích.

Thời bấy giờ vua Trần Nhân Tông đã cho xây tại chùa một thư viện lớn và cung Bảo Hoa. Sau khi khánh thành, vua Trần Nhân Tông đã sáng tác tập thơ "Bảo Hoa dư bút" dày tới 8 quyển. Vua Trần Nghệ Tông đã lấy Phật Tích làm nơi tổ chức cuộc thi Thái học sinh (thi Tiến sỹ).

Vào thời nhà Lê, năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn, có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc tự. Người có công trong việc xây dựng này là Bà Chúa Trần Ngọc Am - đệ nhất cung tần của Chúa Thanh Đô Vương Trịnh Tráng, khi Bà đã rời phủ Chúa về tu ở chùa này. Bia đá còn ghi lại cảnh chùa thật huy hoàng: "... Trên đỉnh núi mở ra một tòa nhà đá, bên trong sáng như ngọc lưu ly. Điện ấy đã rộng lại to, sáng sủa lại kín. Trên bậc thềm đằng trước có bày mười con thú lớn bằng đá, phía sau có Ao Rồng, gác cao vẽ chim phượng và sao Ngưu, sao Đẩu sáng lấp lánh, lầu rộng và tay rồng với tới trời sao,cung Quảng vẽ hoa nhụy hồng...". Đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786), một đại yến hội đã được mở ở đây.

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ và chùa bị tàn phá nhiều. Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947.

Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A-di-đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử-văn hóa.
,,,

Nguồn Chùa Phật Tích - Bách khoa toàn thư mở Wikipedia