Tuesday, February 25, 2014

Xuân Này Con Về - Đinh Văn Thắng (Tony)

Xuân Này Con Về.

Đối với những người trong quân đội VNCH trước năm 1975 (sau năm 1968 - Tết Mậu Thân) nói riêng và hầu như tất cả dân chúng miền Nam VN nói chung, và nhất là những người con xa nhà, mỗi khi Xuân về, chúng ta không thể quên nhạc phẩm “Xuân này con không về” của cố nhạc sỹ Nhật Ngân.

Tôi rời VN vào Hè năm 1981, đã 33 năm không về VN vào dịp Tết được, cứ Xuân đến rồi Xuân đi, tưởng rằng sẽ không bao giờ về ăn Tết với Mẹ Già nữa. Nhưng đến năm nay (năm thứ 34), bất ngờ bị thất nghiệp, tôi đã tranh thủ để về VN mừng Xuân và thăm Mẹ Già cũng như thăm họ hàng, thầy trò, bạn hữu vào dịp Tết năm nay. Một chuyến đi thật bất ngờ cho cả bản thân tôi và gia đình. Chuyến đi lần này không dự định mà lại đi được, ngược lại 33 năm trước cố gắng đi thì lại không kỳ nào về VN vào dịp Tết được cả. Chuyến đi lần này đã cho tôi quá nhiều ngạc nhiên và thú vị. Tôi đã cố gắng đi thăm họ hàng trong Sài Gòn, nhất là những người lớn tuổi như dì Cuông (Phan Thị Xin), dì Chỉ, cậu Nguyễn Tuyển Thiệm, bác Hậu gái, cậu Diệm, bác Tòng, chú Hoàn (chồng dì Đinh Thị Lộc) vv...  Định đi Phước Lý, Bảo Lộc và Đà Lạt, nhưng tôi đã không còn đủ thời gian nữa, cho nên đành hẹn lại dịp khác vậy. Sau đây, tôi sẽ lần lượt tường thuật lại chuyến viếng thăm họ hàng của từng gia đình mà tôi đã đi thăm.

Người đầu tiên, tôi xin giới thiệu đến qúy đồng hương thân mẫu của tôi là bà Phan Thị Yêm, năm nay bà 86 tuổi (tính theo tuổi ta, bà sinh năm 1929).

Vào 11:45 đêm ngày 31-1-2014 (tức ngày mùng 1 Âm lịch - Tết), tôi về tới phi trường Tân Sơn Nhất, tôi đã về bất ngờ, không báo cho ai biết, chỉ riêng cho hai đứa cháu Bi và Boy (Sơn và Hùng con của chị Hiền).

Hai cháu cũng giữ bí mật để tạo bất ngờ cho Mẹ Già và gia đình. Giữa đêm mùng Một là tôi đã đặt chân tới nhà chị Hiền, nhưng giờ đó Bà đã an mạnh trong giấc ngủ thường ngày, cho nên đành phải chờ thêm vài tiếng nữa mới báo cho Mẹ Già biết. Tôi đã thức trắng đêm. Đêm thật là dài, giờ giấc bị thay đổi, không có cách nào ngủ được, tôi cứ thao thức và ôn lại kỷ niệm cũ và đứng balcony (băng công) nhìn vào xóm vắng. Xóm làng đã bắt đầu chìm sâu trong màn đêm, lúc này đã làm tôi liên tưởng đến nhạc phẩm Xóm Đêm của nhạc sỹ Phạm Đình Chương “Xóm vắng im lìm…! Nghe ai thoáng ru câu mến trìu, Nghe không gian tiếng yêu thương nhiều…!”

Tôi đã cố nằm thiếp đi để cho đêm ngắn lại, thế rồi lúc 4:30 sáng, tiếng chuông nhà thờ An Lạc bắt đầu đổ rầm rộ, tiếp đó 4:45 tiếng chuông nhà thờ Tân Chí Linh, nhà thờ Nam Thái nối đuôi nhau liên tục vang dội khắp xóm làng. Tiếng gà gáy, tiếng xe Honda đã bắt đầu nối đuôi nhau, thi thoảng lại có chen vào những tiếng rao hàng rong “bánh mì nóng, bánh chưng, bánh dày nóng vv…!” Thật là thú vị, đã lâu lắm rồi tôi lại được nghe, thấy và cảm nhận được hương vị xóm làng và cuộc sống đời thường của Sài Gòn, được nghe những tiếng chuông Nhà Thờ đổ rầm rộ, được nghe tiếng rao hàng rong, được nhìn lại cảnh người buôn thúng bán bưng, nhìn thấy những nhọc nhằn của người bán hàng rong, thật là tội nghiệp, dù chỉ là mùng Hai Tết đã bắt đầu phải lăn lộn trong cuộc sống…!  

Cuối cùng cũng đến lúc Mẹ Già đã nhận được sự Ngạc Nhiên mà tôi mang đến cho Mẹ. Nhìn vào đồng hồ đã 6:30 sáng, tôi vội vàng đi thăm Bà (tức là tôi ở từ nhà chị Hiền, Mẹ ở nhà gần đó). Bất ngờ Mẹ Già và tôi đã gặp nhau, lời đầu tiên tôi gặp Mẹ và thốt lên câu: “Mẹ ơi, Xuân Này Con Về rồi.”  Bà vui quá sức, Bà không nói nên lời, chỉ biết cười và rươm rướm nước mắt. Sau đó, Mẹ tôi nói: “Con về sao không báo cho Mẹ biết ?”. Tiếp đó Bà bảo tôi qua nhà anh Ất - chị Khuyên báo cho anh chị ấy biết. Thật là bất ngờ, cả nhà ai cũng vui mừng. Chị Khuyên tôi (vợ của anh Ất) lăng xăng chạy ra vào và nói “Chị mừng quá, cậu về mà chẳng báo gì cả…! Thế rồi mọi chuyện đâu vào đấy.

Về vào dịp Tết thật là thú vị, có bà con đến chúc Tết gia đình, tôi đã gặp khá nhiều bà con họ hàng qua chúc Tết cho Bà như vợ chồng anh Thông con bác Hậu, anh giáo sư Anh văn Nguyễn Văn Đảng ở Biên Hòa, Thái và Lâm con dì Chỉ, thêm đó Duyên và người chồng ở bên Pháp về ăn Tết nữa, chị Ven, vv….

Qua tới ngày mùng Ba Tết, 9 giờ sáng tôi đã chạy qua Chúc Tết người Thầy năm xưa + người Cậu đã giúp tôi luyện thi lớp 6 vào năm 1972-1973, cũng nhờ người Thầy này mà tôi đã vượt qua vòng thi tuyển (3600 thí sinh, chọn có 360 em), và tôi đã thực sự bước vào ngưỡng cửa trường Trung Học Nguyễn Thượng Hiền năm 1973, bây giờ gọi là Trung học Phổ Thông, tức cấp 3. Trước kia, trường này mang tên “Trường Trung Học Tân Bình”, đến niên khóa 1974-1975 trường được đổi tên Trung Học Nguyễn Thượng Hiền cho đến ngày nay. Theo Bộ Quốc Gia Giáo Dục trước năm 1975, Trường Trung học này dạy từ lớp 6 đến lớp 12. Sau năm 1975, trường có sự thay đổi và chỉ dạy Trung Học Đệ Nhị Cấp.

Tôi muốn nói đến Thầy JM Lam Thy ĐVD. Thật là vui mừng khi gặp lại Thầy. Chuyện trò thật say mê, học hỏi từ chữ Nho đến chuyện nhà thờ GX Dũng Vy vv…



Hôm đó quá vội vàng đi chúc Tết Cậu, cho nên không mang máy ảnh theo. Mãi tới ngày cuối cùng trước khi về lại USA (ngày 19-2-2014) tôi mới trở lại thăm Cậu và từ giã Cậu, luôn thể chụp hình và học hỏi cũng như ôn lại kỷ niệm. Hai Cậu Cháu chuyện trò rất vui vẻ và cởi mở…! Bài tới tôi sẽ viết nói thêm về cuộc viếng thăm Thầy JM Lam Thy ĐVD. 

Từ từ tôi sẽ viết để tâm sự cùng qúy đồng hương câu chuyện viếng thăm những người họ hàng khác như dì Cuông, dì Chỉ, vợ chồng Nhan (con chú Đinh Công Khảo), hai chị Uyên (Bốt), chị Thúy con ông Nguyễn Văn Sở (ông Bốt), bác Đinh Quang Tòng, bác Tân, gia đình chú Hoàn, ông Nguyễn Tuyển Thiệm và gia đình chị Hữu ở Long Giao - Long Khánh, anh Đinh Văn Hồng con ông Chẩn ở Đồng Xoài (trước kia ở Phước Lý) và một vài người nữa. Tạm thời dừng bút và hẹn gặp lại qúy vị vào bài kế tiếp.

Dallas Texas, ngày 25-2-2014.
Tony Thắng Đinh. 

-----------
Ghi chú của Blog KYDV:

Quý đồng hương và bạn đọc cũng có thể xem bài viết này tại Hình ảnh - Văn bản KYDV - Đinh Văn Thắng.

Friday, February 21, 2014

Danh sách các lễ hội ở Bắc Ninh (Tháng 2)

Lịch một số lễ hội ở Bắc Ninh (Tháng 2) 

  • Mùng 4: Hội Đình Đông - Đình Đoài, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành (hai đình chung một hội)
  • Mùng 6
    • Hội Đình Làng Đông Côi (Thôn Cả - Thị Trấn Hồ - H. Thuận Thành - TP. Bắc Ninh).
    • Hội Đình làng Dương Húc (Đại Đồng - Tiên Du), lễ rước Thành hoàng có công dẹp giặc Ân giúp nước.
    • Hội đình Keo ở Phù Chẩn, thị xã Từ Sơn
    • Hội làng Nghĩa Chỉ ở Nghĩa Chỉ, Minh Đạo, Tiên Du.
  • Mùng 6-­2:
    • Hội trình nghề ở Phương La Đông, Phương La Đoài (Tam Giang,­ Yên Phong).
    • Hội làng Tiêu Long, xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn.
  • Mùng 7:
    • Hội đền Đức Vua Bà (Thuỷ tổ Quan họ) làng Viêm Xá (Diềm) ở xã Hoà Long, huyện Yên Phong.
    • Hội làng Hồi Quan nơi thờ đức thánh tam quang ở xã Tương Giang thị xã Từ Sơn
    • Hội Chùa Đài hay còn gọi là chùa Kim Đài, phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn
  • Mùng 7­-15:
    • Hội tranh cây mộc tất làng Long Khám ở xã Việt Đoàn, huyện Tiên Du.
  • Mùng 7-9:
    • Hội làng Tiến Bào ở Tiến Bào, xã Phù khê, thị xã Từ Sơn
    • Hội làng Nguyễn Thụ ở phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn.
    • Hội làng Lễ Xuyên ở phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn.
    • Hội làng Yên Lã ở phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn.
    • Hội chùa Tiêu ở xã Tương Giang, thị xã Từ Sơn.
  • Mùng 8-9:
    • Hội làng Hưng Phúc ở xã Tương Giang, Thị xã Từ Sơn
  • Mùng 8­-10:
    • Hội làng Cẩm Giang ở phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn.
  • Mùng 10:
    • Hội làng Đại Vi, xã Đại Đồng, Tiên Du, Bắc Ninh
    • Hội làng Vân Xá, xã Cách Bi, huyện Quế Võ, thờ Lê Văn Thịnh (Thủ Khoa Đại Việt đầu tiên)
    • Hội làng Dương Lôi (Đình Sấm) ở phường Tân Hồng, thị xã Từ Sơn để kỷ niệm ngày mất của bà Phạm Thị, mẹ Lý Công Uẩn.
    • Hội làng Tam Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du. Kỷ niệm ngày sinh của ông bà Phụ Quốc Đại Vương TRẦN QÚY và Minh Phúc Hoàng Thái Hậu PHƯƠNG DUNG, người có công cứu mạng Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ). Tưởng nhớ ớn hai anh em vị tướng ĐÀO LẠI BỘ người có công giúp Thục Phán AN DƯƠNG VƯƠNG đánh giặc Triệu Đà xâm lược.
    • Hội làng Đông Phù (Phú Lâm, ­Tiên Du) có trò rồng rắn đuổi bệt.
    • Hội làng Đại Mão, xã Hoài Thượng, Thuận Thành, Bắc Ninh
  • Mùng 10 - 12:
    • Hội Làng Yên Mẫn, phường Kinh Bắc, Thành phố Bắc Ninh
  • Ngày 14:
    • Hội chùa Hàm Long ở xã Nam Sơn, TP Bắc Ninh.
  • Ngày 14­-15:
    • Hội chùa làng Nghiêm Xá ở xã Việt Hùng, huyện Quế Võ.
  • Ngày 12­-16:
    • Hội đình Đình Bảng (Đình Bảng, ­Từ Sơn) có đón chạ Cẩm Giang và thi đấu vật.
    • Ngày 17: Hội làng Nghi An (Trạm Lộ - Thuận Thành) rước phật, đá bóng, bóng chuyền, đánh đu, chọi gà, hát quan họ.
    Lễ hội tưởng niệm Đức Thánh Tam Giang, Vọng Nguyệt là nơi có đền thờ chính thờ Trương Hống (trong số 300 làng thờ Đức Thánh Tam Giang) - người anh cả trong gia đình có năm anh em, đã có công giúp Triệu Việt Vương đánh giặc và sau này hiển linh giúp Lê Đại Hành (981), Lý Thường Kiệt (1076) trong kháng chiến chống quân Tống. Tương truyền ông và người em - Trương Hát đã đọc bài thơ Nam quốc sơn hà trong các cuộc kháng chiến đó.[6][7]
      • Ngày 26: Hội làng Tiến Sĩ Kim Đôi ở xã Kim Chân, TP. Bắc Ninh.
      • Ngày 28: Hội chiến thắng Như Nguyệt ở xã Tam Giang, huyện Yên Phong.

    Source

    Saturday, February 15, 2014

    Mùa Xuân trên quê ngoại Nguyễn Du

    Thứ sáu, 13/04/2012 - 08:35
     
    Mùa Xuân Kinh Bắc, mưa bụi phơ phất giăng tơ khắp trời. Không khí xóm làng như thực như mơ. Thiên nhiên trải bày bức tranh thuỷ mặc. Đến với làng Kim Thiều, tưởng mình trở về với ký ức thi hào Nguyễn Du trong nhịp điệu lách cách như Ả Đào gõ phách ngàn năm của một làng nghề sản xuất đồ gỗ chạm khắc nằm trong quần thể chạm khắc gỗ của phủ Từ Sơn, Đông Ngàn xưa...
     
    Một phần của quần thể lừng danh 
      
    Miền quê này dễ đưa đẩy tâm hồn du khách nhập vào những làn điệu dân ca Quan Họ ngọt ngào mê đắm, những huyền thoại lịch sử đượm vẻ linh thiêng, những di tích thâm nghiêm. Và nhịp sống nồng nàn hôm nay như mời gọi bước chân vui dạo. Trên những đường thôn ngõ xóm sạch sẽ phong quang dù lát gạch hay đổ bê tông thì những nếp nhà vẫn giữ được nét tươi mát, duyên dáng bên luỹ tre rặng chuối...
     
    Tiện nghi sinh hoạt trong các gia đình tương đối đầy đủ: sập gụ, tủ chè khảm trai, ti vi, xe máy, và một số người còn sắm cả ô tô chạy hàng...
     
    Mặc dù kinh tế đã khấm khá nhưng người dân Kim Thiều vẫn chịu thương chịu khó sớm khuya và không quên cội nguồn, thuần phong mỹ tục của địa phương từng được gần xa bao đời ca ngợi.
     
    Ngôi làng cổ Kim Thiều - quê ngoại của thi hào Nguyễn Du còn có tên chữ là Hoa Thiều, tên Nôm là làng Mấc, thuộc xã Ông Mặc, trấn Kinh Bắc, nay thuộc Hương Mạc (Từ Sơn - Bắc Ninh). Kim Thiều cùng với Phù Khê, Trang Liệt, Đồng Kỵ, Hương Mạc, Vân Hà tạo thành quần thể chạm ngà, chạm gỗ lừng danh ở Kinh Bắc và nước ta.
     
    Lượn quanh những ngõ xóm đầm ấm, thanh bình, tâm trí cứ thầm tìm kiếm dấu vết cậu Chiêu Bảy từng sống với người mẹ trẻ xinh đẹp cùng các anh chị em ở quê ngoại thời thơ bé. Cánh đồng Hiên xanh mướt lúa khoai, chấp chới cánh cò trắng muốt trước minh đường nhà thờ họ Trần kia có liên quan gì đến bút hiệu Thanh Hiên của Nguyễn Du?
     
    Suốt mấy trăm năm nay, thiên hạ vẫn cho rằng: Nguyễn Du (1765- 1820) -  tác giả “Truyện Kiều” nổi tiếng thế giới là sự hội tụ, thăng hoa linh khí văn chương của hai vùng đất có bề dày lịch sử - văn hoá: Hà Tĩnh quê cha, Kinh Bắc quê mẹ.
     
    Họ Trần danh gia vọng tộc 
      
    Theo gia phả Nguyễn (Tiên Điền - Nghi Xuân) thì gia đình Nguyễn Du thuộc loại trâm anh thế phiệt, nhiều đời hiển hách “cha con, anh em, chú bác đều là người khoa giáp, làm quan to thời Lê - Trịnh”.
     
    Xuân quận công Nguyễn Nghiễm (1707 - 1775) thân phụ Nguyễn Du đã đỗ Tiến sĩ, giữ chức Đại tư đồ Bình nam Tả tướng quân (tức Tể tướng triều đình). 4 chữ “Cổ Kim Nhật Nguyệt” khảm vàng son trên bức đại tự treo ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội) là bút tích thư pháp và 2 cây đại hoa vàng trước cửa Thái học là kỷ vật của đại thần văn võ song toàn Nguyễn Nghiễm đối với trường Đại học đầu tiên của nước ta...
     
    Họ nội đã vậy nhưng họ ngoại và quê mẹ Nguyễn Du cũng “môn đăng hộ đối” không kém. Nhiều bộ gia phả của các dòng họ làng Hoa Thiều và toàn xã Ông Mặc có ghi chép về gái vùng này vừa đẹp vừa đảm, thường được các triều đại tuyển chọn phi tần. Không chỉ có nghệ nhân giỏi được kén vào cung đình làm đồ mỹ nghệ và trang trí nội thất cho vua chúa mà còn lừng danh khoa bảng, toàn xã có 22 Tiến sĩ kể từ thời Trần đến thời Nguyễn (theo “Danh công truyện ký”). Thời nay số giáo sư, Tiến sĩ trong các lĩnh vực cũng gần gấp đôi con số đó. Tại xã có 11 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và quốc gia thì 9 di tích thuộc về các dòng họ như Đàm (Đàm Thận Huy), Nguyễn (Nguyễn Giản Thanh), Đỗ (Đỗ Đại Uyên), Nguyễn Hữu (Mai Động), Trần (Trần Ngạn Húc).
     
    Ngay tại làng Hoa Thiều, dân gian còn truyền tụng câu chuyện Tể tướng Nguyễn Nghiễm lấy cô thôn nữ Trần Thị Tần làm trắc thất. Sinh ngày 8 tháng 7 năm Canh Thân (tức 24-8-1740) bà Trần Thị Tần - con gái quan Câu kê thuộc đời thứ 9 của dòng họ Trần ở Hoa Thiều. Khi kết hôn, Tể tướng hơn người vợ thứ ba này 32 tuổi. Theo bản gia phả của họ Nguyễn ở Tiên Điền thì Tể tướng Nguyễn Nghiễm có 8 vợ và 21 người con. “Hoa thơm đánh cả cụm”, vợ cả, vợ hai của Xuân Quận ông Nguyễn Nghiễm là hai chị em ruột họ Đặng: Đặng Thị Dương và Đặng Thị Thuyết đều biết hát Ca trù.
     
    Bà Trần Thị Tần sinh được 5 người con (4 trai, 1 gái). Anh chị em của Nguyễn Du ra đời với thứ tự: Nguyễn Trụ, Nguyễn Nễ, Nguyễn Thị Diên, Nguyễn Du và Nguyễn Ức. Nguyễn Trụ, con trưởng mất từ nhỏ, Nguyễn Nễ con trai thứ hai hơn Nguyễn Du 4 tuổi. Nguyễn Ức, con trai út.
     
    Nguyễn Du sinh ra ở Kinh Bắc và các anh chị em của ông đều sống với mẹ tại Hoa Thiều. Vùng quê này còn là nơi lánh nạn của gia đình anh trai (Nguyễn Nễ - Trương Thị Ngọc Bình) khi triều đình Lê - Trịnh ở thế kỷ XVIII bị biến loan.
     
    Trong ngôi Từ đường treo bức đại tự “Tiến sĩ từ”, ông trưởng họ Trần đã cho tôi xem gia phả.
     
    Cụ tổ thứ nhất (không rõ tên, sau cháu chắt đặt hiệu là Phổ Khánh) lúc đầu lập cư ở Ngô Trực (Hương Mặc). Khi cụ mất, quan Trần Thái Sử chọn miếng đất ở gò Chử (thôn Cổ Trâu nay thuộc Phù Khê) rộng hơn sào, có núi Thái Sơn làm án, có gò hình thước ngọc. Đúng giờ chính Tý (12 giờ đêm) thì hạ huyệt, mạch theo hướng Tý dẫn vào. Quan Thái sử bảo: Long mạch đắc địa sẽ phát vào đời thứ 5. Quả nhiên, Trần Ngạn Húc sinh năm Giáp Tý (1504) đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Tuất giữ chức Thái Bảo. Thân phụ ngài là Trần Tôn (1472 - 1546) (hiệu Nhiễm Khê) thi hội trúng Tam trường. Vua Lê ra đề thi “Phụng thành xuân sắc phú” thì bài của Nguyễn Giản Thanh xếp thứ nhất, bài của Tiến sĩ Hứa Tam Tỉnh xếp thứ hai, bài của Tiến sĩ Trần Tôn xếp thứ ba. Cụ Trần Tôn được bổ làm tri huyện phủ Ứng Thiên (Thăng Long) và được vua phong Tham nghị, tham chính đại phu. Cụ kết hôn với Trinh Từ Ngọc Uyển (1478 - 1552) con gái cụ Tiến sĩ Nguyễn Giản Liên và là chị gái Trạng nguyên Nguyễn Giản Thanh.
     
    Tiến sĩ Trần Phi Nhỡn (tổ đời thứ sáu) làm quan to triều Mạc, mất tại Cao Bằng; là cháu đích trưởng cụ Trần Tôn.
     
    Theo sự truyền tụng thì họ Trần (Kim Thiều) là hậu duệ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - vị anh hùng lỗi lạc của dân tộc đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông (thế kỷ XIII).
     
    Trong trận Bạch Đằng, những nghệ nhân họ Trần (Kim Thiều) từng rèn đúc Thiết toả (khoá sắt) để giữ chắc những cọc gỗ lim được chằng dây xích đóng xuống lòng sông cửa biển chặn thuyền chiến giặc.
     
    Hồn quê trong danh nhân 
      
    Họ Trần danh gia vọng tộc và làng Hoa Thiều đã để lại nhiều kỷ niệm thân thương đối với Nguyễn Du trong quãng đời thơ ấu, hoa niên từ lúc trứng nước đến khi 10 tuổi thì mồ côi cha, 13 tuổi lại chịu thêm tang mẹ. Sau “đại sự” của thân phụ mẫu, cậu chiêu Bảy Nguyễn Du phải rời quê ngoại đến sống với anh trưởng cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản - đại thần trong phủ chúa Trịnh, giữ chức Tả thị lang Bộ Hình, có dinh thự lớn ở phường Bích Câu (Thăng Long), thì Nguyễn Du có nhiều lần trở về quê mẹ, nghe hát quan họ, vãn cảnh thiên nhiên, thắp hương nhà thờ Tổ. Bên bờ sông Hồng, hơn hai trăm năm trước có lần nào nhà thơ lớn thầm nhỏ lệ trước khung cảnh mênh mang sông nước:
     
    “Chiều chiều ra đứng bờ sông
    Trông về quê mẹ mà không có đò”
     
    Cũng như bao người khác sau khi đọc thơ chữ Hán và Truyện Kiều, tôi cứ thầm hỏi những điều còn ẩn ức trong tâm khảm về chàng Tố Như và chưa tìm ra được lời giải đáp. Chỉ có điều xoa dịu trái tim thời nay là bậc thày thiên tài thi ca Nguyễn Du đã thừa hưởng “gen” thông minh, tài hoa của dòng họ nội - ngoại đều thành đạt về khoa bảng và không khí sinh hoạt hào hoa, nho nhã với nền học vấn uyên thâm của Thăng Long - Kinh Bắc - Hà Tĩnh. Ông có cuộc sống thăng trầm dâu bể và sự thấu hiểu sâu sắc nhân tình thế thái qua ba triều đại (Lê -Trịnh, Tây Sơn, Nguyễn). Tất cả những yếu tố ấy đã góp phần tạo nên cốt cách nhân bản và văn tài siêu việt khiến nhân loại thế giới ngưỡng mộ.
     
    Trương Thị Kim Dung