New Year 2014 Pictures - Quotes - Photobucket
Blog KYDV
▼
Saturday, December 28, 2013
Saturday, December 21, 2013
Đồng hương tâm sự: Đinh Quang Tòng và Đinh Tất Thức (21.12.2013)
San Jose, California USA
Thứ 7, ngày 21 tháng 12, 2013, 12:17:39 Sáng
Chào Bác Tòng
Thăm sức khỏe Bác và gia đình.
Nếu bác có địa chỉ Email thì cho cháu xin, để dễ dàng liên lạc hơn.
Thêm nữa, nếu có địa chỉ Email hoặc số phone của bà con ở VN càng tốt.
Cháu Thức
-----------
Bác đã đọc tin của cháu gửi về rồi. Bác rất vui, bác mới xuống thăm mẹ.
Chúc cháu khỏe mạnh.
Bác của cháu
* Ghi chú của Blog KYDV:
(Đoạn đối thoại với ông Đinh Quang Tòng được trích lại trên Google+ Hangouts)
Thứ 7, ngày 21 tháng 12, 2013, 12:17:39 Sáng
Chào Bác Tòng
Thăm sức khỏe Bác và gia đình.
Nếu bác có địa chỉ Email thì cho cháu xin, để dễ dàng liên lạc hơn.
Thêm nữa, nếu có địa chỉ Email hoặc số phone của bà con ở VN càng tốt.
Cháu Thức
-----------
Bác đã đọc tin của cháu gửi về rồi. Bác rất vui, bác mới xuống thăm mẹ.
Chúc cháu khỏe mạnh.
Bác của cháu
* Ghi chú của Blog KYDV:
(Đoạn đối thoại với ông Đinh Quang Tòng được trích lại trên Google+ Hangouts)
Đồng hương tâm sự: Đinh Sỹ Việt và Đinh Văn Tuyên
From: Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Sent: Sat 12/21/13 11:49 AM
To: Việt Đinh sỹ (noreply-comment@blogger.com)
Chào ông Việt
Cảm ơn ông đã Comment và cho thông tin thêm về Gia Phả Họ Đinh. Blog KYDV đã chuyển thư của ông đến ông Đinh Văn Tuyên và ông Đinh Văn Diệm, hy vọng các ông Tuyên và Diệm sẽ liên lạc cùng ông...
Blog KYDV cũng mong được đón nhận thêm những thông tin của quý vị đồng hương Dũng Vi tại quê nhà...
Kính chúc ông, qúy đồng hương và thân quyến vui khỏe và gặt hái nhiều thành công.
Hẹn tái ngộ.
Blog KYDV
--------------------------------------------------------------------------------
Date: Sat, 21 Dec 2013 01:35:42 +0000
Subject: [Kỷ Yếu Dũng Vi] New comment on Gia phả Họ Đinh.
From: noreply-comment@blogger.com
To: dthuc@live.com
Việt Đinh sỹ has left a new comment on your post "Gia phả Họ Đinh":
Chào ông Tuyên.
Cháu là: Đinh Sỹ Việt cháu ông Đinh Sỹ Sót (trưởng gia tộc họ Đinh Sỹ (Văn)) tại Thôn Lương (làng Dũng Vi xưa) - xã Tri Phương - Tiên Du - BN.
Chúc ông và đại gia đình mạnh khỏe hạnh phúc và gặp nhiều may mắn
ĐT liên hệ: 0978.923.267
Email: Dinhsyviet.bn@gmail.com
Posted by Việt Đinh Sỹ to Kỷ Yếu Dũng Vi at December 20, 2013 at 5:35 PM
Sent: Sat 12/21/13 11:49 AM
To: Việt Đinh sỹ (noreply-comment@blogger.com)
Chào ông Việt
Cảm ơn ông đã Comment và cho thông tin thêm về Gia Phả Họ Đinh. Blog KYDV đã chuyển thư của ông đến ông Đinh Văn Tuyên và ông Đinh Văn Diệm, hy vọng các ông Tuyên và Diệm sẽ liên lạc cùng ông...
Blog KYDV cũng mong được đón nhận thêm những thông tin của quý vị đồng hương Dũng Vi tại quê nhà...
Kính chúc ông, qúy đồng hương và thân quyến vui khỏe và gặt hái nhiều thành công.
Hẹn tái ngộ.
Blog KYDV
--------------------------------------------------------------------------------
Date: Sat, 21 Dec 2013 01:35:42 +0000
Subject: [Kỷ Yếu Dũng Vi] New comment on Gia phả Họ Đinh.
From: noreply-comment@blogger.com
To: dthuc@live.com
Việt Đinh sỹ has left a new comment on your post "Gia phả Họ Đinh":
Chào ông Tuyên.
Cháu là: Đinh Sỹ Việt cháu ông Đinh Sỹ Sót (trưởng gia tộc họ Đinh Sỹ (Văn)) tại Thôn Lương (làng Dũng Vi xưa) - xã Tri Phương - Tiên Du - BN.
Chúc ông và đại gia đình mạnh khỏe hạnh phúc và gặp nhiều may mắn
ĐT liên hệ: 0978.923.267
Email: Dinhsyviet.bn@gmail.com
Posted by Việt Đinh Sỹ to Kỷ Yếu Dũng Vi at December 20, 2013 at 5:35 PM
Wednesday, December 18, 2013
Đồng hương tâm sự: Đinh Quang Tòng và Đinh Tất Thức (18.12.2013)
Thành phố San Jose, California USA
Thứ 4, ngày 18 tháng 12, 2013, 11:57:35 Sáng
Chào Bác Tòng
Rất vui khi nhận được liên lạc của Bác. Bác và gia đình khỏe không? Cho cháu gởi lời thăm và chúc sức khỏe họ hàng thân quyến...
Cháu chưa nhận được bài của Bác. Có lẽ Chú Diệm và Thăng sẽ gởi lại bài cho cháu sau.
Để tiện cho cháu. Bác cứ gởi thơ, bài viết, hình ảnh và video clip (nếu có) bằng địa chỉ Email dthuc@live.com là cháu biết liền và dễ dàng copy bài đăng lên Blog, vì cháu sử dụng Email này là chính, còn ở các mạng khác là phụ nên thỉnh thoảng mới ghé xem... Chú Tuyên, chú Diệm, Thắng (con ông Đột) và mọi người đều liên lạc như vậy cả.
Còn đây là địa chỉ Blog Kỷ Yếu Dũng Vi http://kyyeudungvi.blogspot.com/
Chào Bác. Chúc sức khỏe
----------
Thứ 4, ngày 18 tháng 12, 2013, 11:57:35 Sáng
Chào Bác Tòng
Rất vui khi nhận được liên lạc của Bác. Bác và gia đình khỏe không? Cho cháu gởi lời thăm và chúc sức khỏe họ hàng thân quyến...
Cháu chưa nhận được bài của Bác. Có lẽ Chú Diệm và Thăng sẽ gởi lại bài cho cháu sau.
Để tiện cho cháu. Bác cứ gởi thơ, bài viết, hình ảnh và video clip (nếu có) bằng địa chỉ Email dthuc@live.com là cháu biết liền và dễ dàng copy bài đăng lên Blog, vì cháu sử dụng Email này là chính, còn ở các mạng khác là phụ nên thỉnh thoảng mới ghé xem... Chú Tuyên, chú Diệm, Thắng (con ông Đột) và mọi người đều liên lạc như vậy cả.
Còn đây là địa chỉ Blog Kỷ Yếu Dũng Vi http://kyyeudungvi.blogspot.com/
Chào Bác. Chúc sức khỏe
----------
Tue, 11:58 PM
Cháu Thức bác đã gửi cho Thăng một Ân Tình Mẹ Cha, hai là Hành Hương Quê Mẹ và bài Dũng Vi Hôm Nay cho chú Diệm thơ.
Tòng
* Ghi chú của Blog KYDV:
(Đoạn đối thoại với ông Đinh Quang Tòng được trích lại trên Google+ Hangouts)
Tuesday, December 17, 2013
Nghệ thuật tuồng cổ xã Tri Phương cần được khôi phục
Thứ sáu, 22/02/2013 - 10:01
Đến thôn Lương, xã Tri Phương (Tiên Du) chúng tôi được các bậc cao niên giới thiệu nghệ thuật tuồng cổ của dân tộc. Với những người cao tuổi nơi đây thì sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tuồng chính là món ăn tinh thần không thể thiếu, nhất là trong những ngày lễ, tết, ngày hội làng của địa phương.
Tại đây chúng tôi được tiếp chuyện với cụ Đinh Thị Thọ, 86 tuổi là một người con của gia đình nghệ nhân tuồng cổ (một gia đình vốn có truyền thống nghệ thuật).
Nghe cụ Thọ kể lại, cũng chẳng ai trong ngôi làng có thể nhớ được nghệ thuật Tuồng ở thôn Lương có từ bao giờ, cụ vẫn nhớ gia đình cụ vốn là một gánh hát, những bậc sinh thành đều là những đào kép, khoảng năm 14, 15 tuổi cụ thường theo gia đình đi biểu diễn phục vụ khắp nơi. Do sớm được theo cha mẹ đi biểu diễn từ nhỏ và là con nhà nòi nên cụ Thọ khá am hiểu tường tận về môn nghệ thuật này.
Theo cụ Thọ, Tuồng là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu tổng hợp gồm có cả văn học, hội họa, âm nhạc, múa, trò diễn. Đặc biệt đối với tuồng đòi hỏi phải có những đào kép chính có tài diễn xuất thật xuất sắc và kịch bản phải hay mới thu hút được người xem.
Đối với nhạc đệm trong nghệ thuật tuồng cụ Thọ cho biết thêm: “Dàn nhạc Tuồng gồm có bộ gõ, bộ hơi, bộ dây và bộ gảy. Dàn nhạc có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc hỗ trợ diễn viên biểu diễn. Do vậy, mỗi nhạc công khi chơi một nhạc cụ cần phải hòa mình với vở diễn, đồng cảm với tính cách, số phận của từng nhân vật trên sàn diễn để mỗi khi tiếng trống, tiếng chiêng… phát ra phải khớp với từng động tác, điệu bộ và diễn biến của từng cung đoạn. Theo cụ muốn tinh thông nghề nghiệp, phải khổ luyện, mà luyện mãi rồi quen, quen rồi lâu dần trở nên thuần thục, thành thạo.
Về phần ca diễn, Tuồng có những lối hát xướng như: Nói Lối, hát Nam, hát Khách... Nói Lối Tuồng nghĩa là đào kép xưng tên, đây là một thứ nói được cách điệu cao; hát Nam gồm Nam Xuân (sửa soạn lên đường), Nam Ai, Nam Thương (cho những vai buồn)... hát Khách gồm: Khách Phú (hát đối đáp), Khách Tẩu (có chuyện cấp bách),...
Không giống với các loại hình sân khấu khác như chèo, cải lương... Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc. Qua đó có thể thấy rõ chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của Tuồng. Đây là một loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính cổ điển khá độc đáo của dân tộc ta. Ngôn ngữ của tuồng là văn chương bác học kết hợp nhuần nhuyễn văn chữ Hán với văn nôm. Kho tàng các vở diễn tuồng cổ ước có đến vài trăm vở nhưng lâu dần bị thất lạc phần lớn, trong đó có thể kể vài vở đặc trưng như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Trưng nữ vương...
Không gian sân khấu của nghệ thuật tuồng không đòi hỏi quá cầu kỳ. Cụ Thọ tâm sự, thuở trước các gánh hát Tuồng chỉ cần có một chiếc chiếu trải giữa sân đình và đôi ba cái hòm gỗ đựng đạo cụ, phục trang.
Cùng với nhịp sống văn minh đô thị phát triển, các loại hình nghệ thuật mới đã nhanh chóng lan toả khắp nơi từ thành thị đến nông thôn. Bên cạnh đó, ngày nay một bộ phận khán giả trẻ đã bắt đầu quay lưng dần với bộ môn nghệ thuật này. Chính điều này là nỗi trăn trở lớn nhất của một diễn viên có tiếng một thời như cụ Thọ. Lúc nào cũng đau đáu một điều, “muốn khôi phục và vực dậy CLB biểu diễn nghệ thuật tuồng cổ đối với thôn Lương, nhưng kinh phí thì gặp nhiều khó khăn, lực lượng tham gia biểu diễn cũng không còn nhiều, bây giờ chỉ trông vào lứa trẻ và sự quan tâm của các cấp đối với môn nghệ thuật này thôi”, cụ Thọ chia sẻ.
Với tinh thần bảo tồn di sản văn hoá dân tộc, gìn giữ tinh hoa vốn cổ của ông cha, đặc biệt là đối với bộ môn nghệ thuật truyền thống đã gắn liền với dân tộc qua bao thế kỷ, rất cần có sự quan tâm của cấp trên để sân khấu tuồng cổ lại được vang lên ở các vùng quê.
Đình Bắc
Source Bac Ninh Online
Đến thôn Lương, xã Tri Phương (Tiên Du) chúng tôi được các bậc cao niên giới thiệu nghệ thuật tuồng cổ của dân tộc. Với những người cao tuổi nơi đây thì sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tuồng chính là món ăn tinh thần không thể thiếu, nhất là trong những ngày lễ, tết, ngày hội làng của địa phương.
Tại đây chúng tôi được tiếp chuyện với cụ Đinh Thị Thọ, 86 tuổi là một người con của gia đình nghệ nhân tuồng cổ (một gia đình vốn có truyền thống nghệ thuật).
Nghe cụ Thọ kể lại, cũng chẳng ai trong ngôi làng có thể nhớ được nghệ thuật Tuồng ở thôn Lương có từ bao giờ, cụ vẫn nhớ gia đình cụ vốn là một gánh hát, những bậc sinh thành đều là những đào kép, khoảng năm 14, 15 tuổi cụ thường theo gia đình đi biểu diễn phục vụ khắp nơi. Do sớm được theo cha mẹ đi biểu diễn từ nhỏ và là con nhà nòi nên cụ Thọ khá am hiểu tường tận về môn nghệ thuật này.
Theo cụ Thọ, Tuồng là một trong những loại hình nghệ thuật sân khấu tổng hợp gồm có cả văn học, hội họa, âm nhạc, múa, trò diễn. Đặc biệt đối với tuồng đòi hỏi phải có những đào kép chính có tài diễn xuất thật xuất sắc và kịch bản phải hay mới thu hút được người xem.
Đối với nhạc đệm trong nghệ thuật tuồng cụ Thọ cho biết thêm: “Dàn nhạc Tuồng gồm có bộ gõ, bộ hơi, bộ dây và bộ gảy. Dàn nhạc có nhiệm vụ rất quan trọng trong việc hỗ trợ diễn viên biểu diễn. Do vậy, mỗi nhạc công khi chơi một nhạc cụ cần phải hòa mình với vở diễn, đồng cảm với tính cách, số phận của từng nhân vật trên sàn diễn để mỗi khi tiếng trống, tiếng chiêng… phát ra phải khớp với từng động tác, điệu bộ và diễn biến của từng cung đoạn. Theo cụ muốn tinh thông nghề nghiệp, phải khổ luyện, mà luyện mãi rồi quen, quen rồi lâu dần trở nên thuần thục, thành thạo.
Về phần ca diễn, Tuồng có những lối hát xướng như: Nói Lối, hát Nam, hát Khách... Nói Lối Tuồng nghĩa là đào kép xưng tên, đây là một thứ nói được cách điệu cao; hát Nam gồm Nam Xuân (sửa soạn lên đường), Nam Ai, Nam Thương (cho những vai buồn)... hát Khách gồm: Khách Phú (hát đối đáp), Khách Tẩu (có chuyện cấp bách),...
Không giống với các loại hình sân khấu khác như chèo, cải lương... Tuồng mang theo âm hưởng hùng tráng với những tấm gương tận trung báo quốc, xả thân vì đại nghĩa, những bài học về lẽ ứng xử của con người giữa cái chung và cái riêng, giữa gia đình và Tổ quốc. Qua đó có thể thấy rõ chất bi hùng là một đặc trưng thẩm mỹ của Tuồng. Đây là một loại hình nghệ thuật sân khấu mang tính cổ điển khá độc đáo của dân tộc ta. Ngôn ngữ của tuồng là văn chương bác học kết hợp nhuần nhuyễn văn chữ Hán với văn nôm. Kho tàng các vở diễn tuồng cổ ước có đến vài trăm vở nhưng lâu dần bị thất lạc phần lớn, trong đó có thể kể vài vở đặc trưng như Sơn Hậu, Tam nữ đồ vương, Đào Phi Phụng, Trưng nữ vương...
Không gian sân khấu của nghệ thuật tuồng không đòi hỏi quá cầu kỳ. Cụ Thọ tâm sự, thuở trước các gánh hát Tuồng chỉ cần có một chiếc chiếu trải giữa sân đình và đôi ba cái hòm gỗ đựng đạo cụ, phục trang.
Cùng với nhịp sống văn minh đô thị phát triển, các loại hình nghệ thuật mới đã nhanh chóng lan toả khắp nơi từ thành thị đến nông thôn. Bên cạnh đó, ngày nay một bộ phận khán giả trẻ đã bắt đầu quay lưng dần với bộ môn nghệ thuật này. Chính điều này là nỗi trăn trở lớn nhất của một diễn viên có tiếng một thời như cụ Thọ. Lúc nào cũng đau đáu một điều, “muốn khôi phục và vực dậy CLB biểu diễn nghệ thuật tuồng cổ đối với thôn Lương, nhưng kinh phí thì gặp nhiều khó khăn, lực lượng tham gia biểu diễn cũng không còn nhiều, bây giờ chỉ trông vào lứa trẻ và sự quan tâm của các cấp đối với môn nghệ thuật này thôi”, cụ Thọ chia sẻ.
Với tinh thần bảo tồn di sản văn hoá dân tộc, gìn giữ tinh hoa vốn cổ của ông cha, đặc biệt là đối với bộ môn nghệ thuật truyền thống đã gắn liền với dân tộc qua bao thế kỷ, rất cần có sự quan tâm của cấp trên để sân khấu tuồng cổ lại được vang lên ở các vùng quê.
Đình Bắc
Source Bac Ninh Online
Xã Tri Phương, Tiên Du, Bắc Ninh trên bản đồ Google mới
Xã Tri Phương, Tiên Du, Bắc Ninh trên bản đồ Google mới với địa danh thôn, xã, chợ và hình ảnh... (Zoom in to view)
Tri Phương lưu giữ nét đẹp truyền thống
Thứ năm, 14/03/2013 - 15:06
Tri Phương (Tiên Du) là xã nằm ven dòng sông Đuống, đời sống nhân dân chủ yếu dựa vào nông nghiệp, những năm trở lại đây, nhờ có chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, sự năng động nhạy bén của cấp uỷ Đảng, chính quyền kinh tế xã hội của Tri Phương có bước chuyển mình tích cực, đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt, diện mạo làng quê thay đổi từng ngày nhưng vẫn lưu giữ được nhiều nét đẹp văn hoá truyền thống.
Về đến đầu Tri Phương, qua chợ Ve trù phú thấp thoáng mái đình cong cong của làng Lương, đình làng Lương là di tích lịch sử văn hoá được nhà nước công nhận từ năm 1990, đó là một công trình nghệ thuật lưu giữ nhiều nét kiến trúc cổ của dân tộc.
Theo các cụ cao niên kể lại, đình làng Lương được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ XVIII với những nét chạm khắc đạt đến mức điêu luyện, hiếm có. Nơi đây thờ 3 anh em họ Cao và Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan. Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng 2 âm lịch, nhân dân làng Lương lại tưng bừng mở hội. Hội làng Lương là một trong những lễ hội lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức rước ông đám ra đình, năm nào cũng vậy, làng Lương đều cắt cử một ông đám ra đình để lo việc đèn nhang, thờ cúng Thành Hoàng làng và coi sóc công việc của đình, cũng như đảm nhiệm các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương. Nếu có dịp được đến thăm Lễ hội làng Lương vào đúng ngày nhân dân tổ chức rước ông Đám chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng có chung một cảm giác được quay trở về với cội nguồn với những nghi thức truyền thống mang đậm nét văn hoá Việt. Đi đầu đoàn rước là đội múa Lân của thôn, cờ bay, trống rền hoà lẫn với những nghi lễ làm cho buổi rước đầy linh thiêng, trang trọng. Tiếp nối là dân làng áo the khăn xếp, áo tứ thân, quan họ, áo dài truyền thống theo sau. Nhân dân xem rước dọc 2 bên đường. Đến với Hội làng Lương du khách được thưởng thức nhiều loại hình văn hoá văn nghệ như cải lương, chèo, quan họ, các trò chơi dân tộc đập niêu, đấu vật, cờ tướng... đặc biệt là nghi thức tế lễ, dâng hương diễn ra tại đình làng.
Theo các cụ cao niên kể lại, đình làng Lương được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ XVII, đầu thế kỷ XVIII với những nét chạm khắc đạt đến mức điêu luyện, hiếm có. Nơi đây thờ 3 anh em họ Cao và Hoàng thái hậu Nguyên Phi Ỷ Lan. Hàng năm cứ vào ngày 1 tháng 2 âm lịch, nhân dân làng Lương lại tưng bừng mở hội. Hội làng Lương là một trong những lễ hội lưu giữ được nhiều nét văn hoá truyền thống của dân tộc. Lễ hội được bắt đầu bằng nghi thức rước ông đám ra đình, năm nào cũng vậy, làng Lương đều cắt cử một ông đám ra đình để lo việc đèn nhang, thờ cúng Thành Hoàng làng và coi sóc công việc của đình, cũng như đảm nhiệm các hoạt động tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân địa phương. Nếu có dịp được đến thăm Lễ hội làng Lương vào đúng ngày nhân dân tổ chức rước ông Đám chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng có chung một cảm giác được quay trở về với cội nguồn với những nghi thức truyền thống mang đậm nét văn hoá Việt. Đi đầu đoàn rước là đội múa Lân của thôn, cờ bay, trống rền hoà lẫn với những nghi lễ làm cho buổi rước đầy linh thiêng, trang trọng. Tiếp nối là dân làng áo the khăn xếp, áo tứ thân, quan họ, áo dài truyền thống theo sau. Nhân dân xem rước dọc 2 bên đường. Đến với Hội làng Lương du khách được thưởng thức nhiều loại hình văn hoá văn nghệ như cải lương, chèo, quan họ, các trò chơi dân tộc đập niêu, đấu vật, cờ tướng... đặc biệt là nghi thức tế lễ, dâng hương diễn ra tại đình làng.
Vào ngày Hội, người làng Lương đều tạm gác lại công việc, sửa mâm lễ cúng thần hoàng làng rồi mời bạn bè, khách phương xa về để gặp gỡ, chung vui. Các ban, ngành, đoàn thể, các hội nghĩa tình, hội bạn, hội phường... đều sửa lễ dâng hương tại đình làng, khi đi lễ ai nấy đều ăn mặc chỉnh tề, đặc biệt là nữ giới đều mặc áo dài truyền thống của dân tộc. Với những gia đình có con cái lấy chồng, lấy vợ xa quê hoặc làm ăn, công tác xa nhà, Tết chưa về kịp thì đến ngày hội làng sẽ tề tựu đông đủ. Không chỉ làng Lương mà các làng trong xã cũng đều có hội làng mang đậm nét văn hoá Việt.
Tri Phương không chỉ được biết đến và nhớ mãi bởi những ngôi đình cổ kính rêu phong với những lễ hội mà còn là một địa phương còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hoá văn nghệ truyền thống. Hiện xã đã và đang duy trì hoạt động thường xuyên các câu lạc bộ dân ca quan họ, câu lạc bộ chèo truyền thống, câu lạc bộ múa lân, đội tuồng... và có nhiều loại hình câu lạc bộ khác đã và đang góp phần duy trì bản sắc văn hóa dân tộc, làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.
Người dân Tri Phương yêu say văn nghệ, yêu say những loại hình văn hoá truyền thống của dân tộc. Các loại hình sinh hoạt văn hoá văn nghệ cổ được duy trì chủ yếu là do tự dân, từ những tấm lòng yêu những làn điệu của dân tộc, say nét đẹp của những vũ đạo của nghệ thuật tuồng, nghệ thuật cải lương, nghệ thuật chèo... nên cho dù không có bất cứ sự tài trợ nào nhưng Câu lạc bộ chèo thôn Cao Đình vẫn duy trì hoạt động thường xuyên, tham gia tích cực phục vụ các nhiệm vụ chính trị, văn hoá xã hội, biểu diễn phục vụ nhân dân, tham gia các cuộc thi không chuyên do các cấp, các ngành tổ chức. Câu lạc bộ còn tự biên, tự học, tự rút kinh nghiệm và tự diễn cho bà con xem mà không cần bất cứ sự đãi ngộ nào. Mặc dù không còn đủ diễn viên, không còn đủ nhạc công để có thể diễn trọn một vở diễn nhưng những người còn lại của Câu lạc bộ cải lương, đội tuồng đã từng vang danh một thời ở Tri Phương vẫn họp mặt nhau lại ôn luyện những vở tuồng, vở cải lương cổ, hát cho nhau nghe để khỏi nhớ nghề, để nuôi một hy vọng được góp mình gìn giữ và lưu truyền nghệ thuật truyền thống của dân tộc. Người ta khó có thể quyên được giọng hát và những vũ đạo tinh xảo của cụ Đinh Thị Thọ, nghệ nhân tuồng cổ năm nay đã gần 90 tuổi.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, mỗi giờ, mỗi khắc con người đều bị guồng xoay của cơ chế thị trường cuốn theo thì ở Tri Phương vẫn còn đó những con người, những nét đẹp văn hoá đặc sắc của dân tộc đáng trân trọng. Và cần lắm sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền để những nét đẹp truyền thống ấy được lưu giữ, duy trì, phát triển.
Bùi Thuý
Source Bac Ninh Online
Ghi chú: Blog KYDV trích đăng với mục đích tham khảo. Bạn đọc có thể xem tiếp tại trang mạng đính kèm.
Ghi chú: Blog KYDV trích đăng với mục đích tham khảo. Bạn đọc có thể xem tiếp tại trang mạng đính kèm.
Tuesday, December 3, 2013
Thư cảm ơn của Ban Hành Giáo Dũng Vy 02-12-2013
From: Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Mon 12/02/13 9:14 PM
To: Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com); Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Cc: Bui Thi Nguyen (nguyenbt@tanthanhdong.com)
4 attachments (total 1425.5 KB)
Bien nhan213.pdf
THU CAM ON235.pdf
Transfer money II.jpg
View online
Thưa Cậu;
Giáo Xứ Dũng Vy đã nhận tiền đầy đủ và có hồi báo tri ân, cháu gửi Cậu tất cả các văn bản/chứng từ và hình ảnh như Cậu đã yêu cầu ban Mục Vụ làm theo thủ tục như lần trước.
Trong hình có ông Phó Chủ Tịch HĐMV (anh Lễ) và Bà Út (Thủ Qũy) cùng cháu Bùi Thị Nguyên giao tiền. Cháu cám ơn Cậu đã liên lạc ban Mục Vụ GX Dũng Vy để thông báo việc quyên tiền lần này.
Thức;
Làm ơn đăng tất cả những văn bản/chứng từ và hình ảnh lên Blog Kỷ Yếu Dũng Vy để công khai hóa chuyển tiền lần này. Cám ơn Thức nhiều.
Chúc Cậu và Thức luôn an mạnh trong tình thương Chúa Kitô.
Cháu Thắng.
Cell: 214-228-0223
----------
From: Bui Thi Nguyen <nguyenbt@tanthanhdong.com>
To: 'Tony Thang Dinh' <todi_1999@yahoo.com>
Sent: Monday, December 2, 2013 10:32 PM
Subject: FW: THU CAM ON
Kính gửi Chú Thắng
Cháu gửi chú: Thư cảm ơn của Ban Hành Giáo Dũng Vy gửi tới ông bà ân nhân
Chú xem và chuyển tới ông bà Nguyễn Đức Mai giúp cháu nhé.
Cháu gửi chú tấm hình chụp khi cháu bàn giao tiền cho Ban Hành Giáo nữa nhé. (hình chụp bằng điện thoại lại buổi tối nên không rõ lắm)
Cháu cảm ơn chú nhiều.
Chúc cô chú và gia đình luôn an lành và hạnh phúc
Trân trọng
Bùi Thị Nguyên
P. Kế hoạch - Cty Tân Thành Đồng (TNHH)
Đ/c: Cụm CN Tân Hồng - Hoàn Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh
ĐT: 0912.423.159
Sent: Mon 12/02/13 9:14 PM
To: Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com); Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Cc: Bui Thi Nguyen (nguyenbt@tanthanhdong.com)
4 attachments (total 1425.5 KB)
Bien nhan213.pdf
THU CAM ON235.pdf
Transfer money II.jpg
View online
Thưa Cậu;
Giáo Xứ Dũng Vy đã nhận tiền đầy đủ và có hồi báo tri ân, cháu gửi Cậu tất cả các văn bản/chứng từ và hình ảnh như Cậu đã yêu cầu ban Mục Vụ làm theo thủ tục như lần trước.
Trong hình có ông Phó Chủ Tịch HĐMV (anh Lễ) và Bà Út (Thủ Qũy) cùng cháu Bùi Thị Nguyên giao tiền. Cháu cám ơn Cậu đã liên lạc ban Mục Vụ GX Dũng Vy để thông báo việc quyên tiền lần này.
Thức;
Làm ơn đăng tất cả những văn bản/chứng từ và hình ảnh lên Blog Kỷ Yếu Dũng Vy để công khai hóa chuyển tiền lần này. Cám ơn Thức nhiều.
Chúc Cậu và Thức luôn an mạnh trong tình thương Chúa Kitô.
Cháu Thắng.
Cell: 214-228-0223
----------
From: Bui Thi Nguyen <nguyenbt@tanthanhdong.com>
To: 'Tony Thang Dinh' <todi_1999@yahoo.com>
Sent: Monday, December 2, 2013 10:32 PM
Subject: FW: THU CAM ON
Kính gửi Chú Thắng
Cháu gửi chú: Thư cảm ơn của Ban Hành Giáo Dũng Vy gửi tới ông bà ân nhân
Chú xem và chuyển tới ông bà Nguyễn Đức Mai giúp cháu nhé.
Cháu gửi chú tấm hình chụp khi cháu bàn giao tiền cho Ban Hành Giáo nữa nhé. (hình chụp bằng điện thoại lại buổi tối nên không rõ lắm)
Cháu cảm ơn chú nhiều.
Chúc cô chú và gia đình luôn an lành và hạnh phúc
Trân trọng
Bùi Thị Nguyên
P. Kế hoạch - Cty Tân Thành Đồng (TNHH)
Đ/c: Cụm CN Tân Hồng - Hoàn Sơn - Từ Sơn - Bắc Ninh
ĐT: 0912.423.159
Wednesday, November 27, 2013
Tuesday, November 26, 2013
Giáo hạt Bắc Ninh - Giáo xứ Dũng Vi
Giáo hạt Bắc Ninh
Tuesday, May 29, 2012, 23:20
......
Giáo xứ Dũng Vi
Giáo xứ Dũng Vi được hình thành và phát triển từ năm 1887 nhờ vào công lao của Thày Đaminh Tín, ngài đã đỡ đầu và lo việc tòng giáo cho những người đầu tiên trong giáo họ - giáo xứ.
( Còn tiếp…………..)
Tuesday, May 29, 2012, 23:20
......
Giáo xứ Dũng Vi
Giáo xứ Dũng Vi được hình thành và phát triển từ năm 1887 nhờ vào công lao của Thày Đaminh Tín, ngài đã đỡ đầu và lo việc tòng giáo cho những người đầu tiên trong giáo họ - giáo xứ.
Lúc đầu có 12 cụ đại diện cho dân làng đứng ra xin tòng giáo, sau 2 năm (1889) đức cha Lễ đã phê chuẩn thành lập giáo họ Dũng Vi và nhận thánh Giu-se làm Bổn Mạng giáo họ.
Trải qua những thăng trầm, giáo họ đã được thánh bổn mạng gìn giữ và chuyển cầu được muôn ơn lành. Đặc biệt là hồng ân có được các chủ chăn từ khi hình thành giáo họ - giáo xứ cho đến nay, nhờ vậy mà giáo họ không ngừng phát triển và thăng tiến về đời sống tâm linh.
Từ năm 1887 đến năm 2011 đã có 21 linh mục làm mục vụ tại Dũng Vi, đặc biệt cha Giuse Nguyễn Khắc Mẫn đã có công xây dựng ngôi thánh đường Dũng Vi (1939); Có 14 thày đã về ở và phục vụ giáo họ. Nhờ hồng ân và sự dẫn dắt của các bậc chủ chăn đến nay giáo họ đã có 600 nhân danh với nhiều hội đoàn, bao gồm: Ban hành giáo 5 vị, 50 thành viên dòng Ba Đaminh, 80 thành viên họ gia trưởng, họ mân côi 57 thành viên. Ca đoàn giới trẻ 80 em, đoàn kèn 24 thành viên, đoàn hoa 20 em, đoàn trống trắc 20 em, thiếu nhi Thánh Thể 100 em và 28 em lễ sinh. Mặc dù còn non trẻ nhưng nhìn trung nếp sống đạo trong giáo xứ tương đối đạo đức và có nét truyền thống. Cha Giuse Trần Bá Hạnh đang là cha quản nhiệm giáo xứ Dũng Vi.
.......
(một số phần trong tài liệu này được trích trên website: giadinhbacninh.com)
Bắc Ninh ngày 12/8/2011
Trung Tâm Mục Vụ Giáo Phận Bắc Ninh
( Còn tiếp…………..)
Ghi chú: Blog KYDV trích đăng phần Giáo xứ Dũng Vi với mục đích tham khảo. Bạn đọc có thể xem tiếp tại trang mạng của Giáo Phận Bắc Ninh đính kèm dưới đây:
Source Giáo Phận Bắc Ninh
Source Giáo Phận Bắc Ninh
Saturday, November 23, 2013
Mộc bản Triều Nguyễn
vanhoaviettv
Published on Jun 3, 2012
Mộc bản triều Nguyễn gồm những văn bản Hán - Nôm khắc trên gỗ 200 năm trước và in sách tại Việt Nam, vừa được UNESCO trao bằng di sản tư liệu thế giới.
Cục lưu trữ Nhà nước và Trung tâm lưu trữ quốc gia VI tại Đà Lạt đã tổ chức đón nhận bằng từ Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên Hiệp quốc (UNESCO) công nhận Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu thế giới, hôm 3/1/2010.
Khối lượng tài liệu Mộc bản triều Nguyễn đang lưu trữ tại Đà Lạt rất lớn, gồm 34.618 tấm, với 55.318 mặt khắc. Giới nghiên cứu đánh giá đây là tài liệu có giá trị cao, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam thời cận đại.
Theo Thạc sĩ Phạm Thị Huệ, Giám đốc Trung tâm lưu trữ quốc gia VI tại Đà Lạt, Mộc bản triều Nguyễn được sản sinh chủ yếu trong quá trình hoạt động của Quốc sử quán triều Nguyễn tại Huế. Ngoài ra còn có cả những ván khắc in thu được ở Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), đưa vào Huế lưu trữ ở Quốc Tử giám dưới thời vua Minh Mạng và Thiệu Trị. Từ năm 1960, Mộc bản triều Nguyễn cùng với Châu bản, Địch bạ... được chuyển vào Đà Lạt. Việc di chuyển tiến hành rất công phu, cẩn trọng, phải thực hiện tới 3 lần mới hoàn thành.
Nội dung của khối tài liệu này rất phong phú, đa dạng, phản ánh mọi mặt của xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn như: lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa giáo dục, tôn giáo - tư tưởng- triết học, văn thơ, ngôn ngữ - văn tự. Tổng cộng có 152 đầu sách với 1.935 quyển.
Thạc sĩ Huệ cho biết, ngoài giá trị đối với lịch sử và văn hóa Việt Nam, tài liệu Mộc bản triều Nguyễn còn có giá trị tìm hiểu lịch sử văn hóa các nước khác như Lào, Cambuchia, Thái Lan, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ , Bồ Đào Nha... Đặc biệt, trong khối tài liệu quý giá này có những nội dung khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa.
Gỗ dùng làm ván khắc tài liệu Mộc bản triều Nguyễn vừa mền, vừa mịn, được dùng từ gỗ thị, gỗ lê, gỗ táo hay gỗ cây nha đồng. Thớ gỗ trắng, sáng ngời như ngà voi. Nét chữ khắc trên tài liệu Mộc bản rất điêu luyện, tinh xảo và sắc nét. Mỗi nét chữ như rồng bay phượng múa, chuyển tải tâm tư, tình cảm và tâm huyết của người thợ khắc in. Mộc bản không chỉ là tài liệu quý có giá trị lịch sử mà còn là một tác phẩm nghệ thuật.
Góp ý: Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
From: Tuyen Dinh <tuyend@yahoo.com>
To:
Cc: Diem Dinh <lamthydvd@gmail.com>; Tony Thang <todi_1999@yahoo.com>
Sent: Thursday, November 21, 2013 9:10 PM
Chẳng hạn như sau khi Miền Nam thất thủ năm 1975. Thủ Đô Sài Gòn đã bị đổi tên thành TP Hồ Chí Minh. Những người Việt bên Hải Ngoại vẫn gọi là Sài Gòn, ngay cả nhiều người trong nước bây giờ cũng gọi là Sài Gòn chứ đâu gọi tên của Cụ HCM nữa đâu.
Cháu có bấy nhiêu lời thôi, còn quyết định sửa lại tên của Blog thì chuyện của Thức.
Cháu Thắng.
To:
Cc: Diem Dinh <lamthydvd@gmail.com>; Tony Thang <todi_1999@yahoo.com>
Sent: Thursday, November 21, 2013 9:10 PM
Subject: Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
Cháu Thức,
Chú vừa đọc KYDV về việc thống nhất tên làng Dũng
Vi.
Từ hồi Cha mẹ sanh ra làm giấy khai sanh đề nơi sanh là Làng
Dũng Vy, Huyện Tiên Du, Tỉnh Bắc Ninh. Chú chỉ biết tên làng là Dũng Vy chứ
không phải là "Dũng Vi" như hiện nay.
Từ "Dũng Vi" xuất hiện ở trong Nam từ khi Việt Cộng
miền Bắc mang vào mà thôi !
Tìm hiểu Chú mới biết:
- Dùng "i" trong trường hợp các tiếng có phụ âm đầu
+ vần "i" (ví dụ: lí, mĩ, kĩ, thi, sĩ...) đều thống nhất viết bằng
"i" (i ngắn). Ví dụ: lí luận, lí tưởng, thi sĩ, nước Mĩ, Hoa Kì, bánh
mì, vua Lí Thái Tông, Lí Bí, kỉ niệm, v.v... (mà không viết "y" (y
dài) như trước đây. Đây là quy định của Bộ Giáo dục Việt Nam từ năm 1963. Hiện
nay Nhà xuất bản Giáo dục vẫn thực hiện nghiêm chỉnh quy định này trong việc in
Sách giáo khoa các loại.
- Y dài, i ngắn gây tranh luận triền miên, cho đến nay vẫn chưa phân thắng bại. Phe tự coi là tiến bộ thì thích dùng i ngắn. Chỉ khi nào kẹt lắm mới dùng y dài. Gặp tên vua Bảo Ðại Vĩnh Thụy, gặp tên ca sĩ Thanh Thúy, gặp chức vụ Uỷ viên... họ mới ráng xài y dài, nghĩa là khi nào kẹt gặp chữ có vần hòa âm họ mới lôi y dài ra chịu trận, còn không thì họ xài tuốt luốt i ngắn hết. Thế kỷ, nước Mỹ, ly tách... họ viết thế kỉ, nước Mĩ, li tách... và còn xác định thẳng rằng viết như vậy mới đúng nữa. Hai trường học ở Thị Xã Long Xuyên mang chung một tên, tọa lạc sát vách nhau, một trường tên là cấp 1 Mỹ Long, còn trường kia tên là cấp 2 Mĩ Long. Sau một thời gian, bị nhiều lời đàm tiếu, nói ra nói vào, những người "cấp tiến" sửa lại là "cấp 2 Mỹ Long".
Như vậy, dùng y dài cũng được, mà dùng i ngắn cũng được!
Với m có mĩ bị đổi thành mỹ hoàn toàn (mỹ miều, thẩm mỹ, mỹ
thuật, mỹ viện, nước Mỹ v.v...). Ảnh hưởng của việc đổi i thành y của chữ mỹ lớn
tới mức Mị Châu/Mị Nương nay cũng thành Mỵ Châu và Mỵ Nương (để thể hiện sự
kính trọng?). Có lẽ xu hướng này là một cách để phân biệt với chữ mị nghĩa xấu
trong mụ mị, mộng mị, mị dân..
Nhà nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa Trần Ngọc Thêm, lúc đầu
cũng ủng hộ nhất loạt viết i ngắn, nhưng về sau chính ông đã nhận thấy, chỉ xét
riêng về mặt văn hóa, đã không ổn. Góp ý cho sách giáo khoa lớp 4 mới (2005),
ông chỉ ra việc nhất loạt viết i ngắn là một chủ chương cực đoan và không thích
hợp, nhất là khi gặp tên riêng, vì ở đó phải tôn trọng truyền thống và tự do cá
nhân. Và năm sau, NXB Giáo dục đã sửa cách viết tên riêng theo hướng này. (Viết
Chương Mỹ, Lý Tự Trọng thay cho Chương Mĩ, Lí Tự Trọng)
Chẳng hạn trong tên riêng, người ta có quyền lựa chọn để biểu
đạt một ý nghĩa nào đó. Giữa tên là Tí với nghĩa là “bé” khác với Tý với nghĩa
là “năm Tý, năm Chuột”. Hầu hết tên riêng người ta chọn y dài (gốc Hán) để thể
hiện sắc thái trang trọng: chọn Hy (hy vọng), không chọn Hi (cười hi hi), chọn Kỳ
(kỳ vọng), không chọn Kì (kì kèo), v.v
Cho đến nay chưa có cơ quan hay cá nhân nào đủ uy tín định đặt
được qui tắc sử dụng "i" ngắn, "y" dài. Phần lớn đang sử dụng
theo nếp cũ, coi y dài có 4 công dụng tạo chữ như các nguyên âm khác. Họ dùng y
dài nhiều bình thường. Một số khác, được đào tạo từ miền Bắc, và một số ít theo
thời, ở miền Nam, lại sử dụng rất ít y dài. Lúc nào kẹt lắm, khi dùng i ngắn mà
không thể phát âm ra đúng tiếng nói, thì họ mới dùng đến y dài. Ngoài những chữ
có vần hòa âm cần y dài, họ cũng không thể dùng i ngắn trong các chữ có vần ay
hay ây. Câu nói "Miền Tây, dân cày cấy mà hát hò rất hay", đâu có ai
viết là "Miền Tâi, dân cài cấi mà hát hò rất hai".
Tùy theo mỗi vần và theo nghĩa của mỗi chữ, có những trường-hợp
ta chỉ được dùng “y” hay “i” để viết, chứ không thể dùng “i” để thay-thế cho
“y” hay dùng “y” để thay-thế cho “i” được. Ở một số trường-hợp khác, trong cùng
một chữ, có người viết bằng “i” có người viết bằng “y” như trong trường hợp
“quí” hay “quý” chẳng hạn. Tuy-nhiên, theo phong-tục tập-quán, hầu-hết các nhà
văn thường viết các chữ với nguyên-âm “y” hơn là “i” khi các chữ này có cùng một
nghĩa và phát-âm giống nhau. Lý-do chính là vì các chữ có nguyên-âm “y” trông có
vẻ lịch-sự, kính-trọng, quý-mến, trang-nhã, mỹ-thuật, và đầy tình-cảm hơn những
chữ viết bằng nguyên-âm “i,” chẳng-hạn như trong trường-hợp của nhóm chữ “quý
văn-hữu,” “quý ông quý bà,” “quý quan-khách,” “quý bạn,” “quý vị,” “quý chiến-hữu,”
hay “quý cụ,”v.v.
Trong trường-hợp danh-từ riêng như tên thành-phố, tên nước,
hay tên người, v.v., nếu các chữ đã được viết bằng “i” hay “y” thì ta không được
quyền tự-ý thay đổi như trong trường-hợp của tên thành-phố hay tên người sau
đây: Thị-xã Qui-Nhơn, Mỹ-Quốc, Mỹ-Châu, tỉnh Mỹ-Tho, Mị-Châu (con gái vua Thục
An Dương Vương lấy Trọng Thủy, con của Triệu Đà), Mị Nương (con gái vua Hùng
Vương), GS. Doãn Quốc Sỹ, và CT. Trần Thy Vân, v.v.
Chú thấy cháu dẫn chứng nên dùng Dũng Vi theo Tài liệu của
Viện Nghiên Cứu Hán Nôm, thì Chú nghĩ cơ quan này nghiên cứu chữ nôm và chữ Hán
dịch thuật ra chữ Việt (mẫu tự La tinh) cho mình hiểu, chứ nó không có i ngắn
hay y dài đâu. Ngày xưa tất cả đều ghi
chép bằng chữ Nho lưu trữ lại. Chữ nôm là chữ Hán chế ra nên là loại "chữ
hộp" (của người Tàu, mình còn gọi là chữ Nho).
Chữ Dũng Vi viết ở đây là dịch ra chữ quốc ngữ, do người miền
Bắc họ viết là 'i' ngắn hết theo lệnh của
nhà Nước từ năm 1963 nêu ở trên.
Á Châu có 2 nền văn minh lớn ảnh hưởng các quốc gia trong
vùng là Ấn và Trung Hoa, Việt Nam và những quốc gia nào nằm phía bên dãy núi trường
Sơn ảnh hưởng văn minh của Trung Hoa đều viết lọai chữ "hộp" (Chữ
Tàu) như Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản... Còn phía bên kia dãy Trường Sơn Ảnh hưởng
văn minh Ấn Độ đều viết chữ ngoàn nghèo cả: Cambodia, Lào, Thái, Miến... Việt
Nam là Quốc gia Á Châu duy nhất có chữ viết mẫu tự La Tinh nhờ công ơn của các
nhà truyền giáo Âu Châu (Alexandre de Rhodes 1591 – 1660)
Hồi Chú sanh ra chưa có cái nhà Nước Cộng sản này thành ra
chỉ có làng Dũng Vy thôi ! Bây giờ ngoài Bắc thì họ đổi hết rồi: Dũng Vi, Đại
Vi... Trong Nam địa danh chưa kịp đổi:
Mỹ Tho thành Mĩ Tho hay trường học Mỹ Long thành Mĩ Long... Saigon còn đổi được
mà !
Cộng Sản Liên Xô lấy tên Lênin đã đổi tên thành phố Saint
Petersburg (Liên xô) thành Leningrad (có
nghĩa là thành phố Lênin) năm 1924. Đến năm 1991 khi Cộng sản Liên xô sụp đổ lại
trở về tên cũ Saint Petersburg. Việt Cộng bắt chước y chang Ông Tổ Liên xô nên cũng đổi tên Sàigon, nhưng cũng
như Saint Petersburg, Saigon cũng sẽ trở về tên cũ của nó thôi !
Chú cũng góp ý với Cháu cho vui,
Chúc vui, khoẻ
Chú Tuyên.
-----------
From: Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Fri 11/22/13 11:10 AM
To: Tuyen Dinh (tuyend@yahoo.com)
Cc: Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com); Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Sent: Fri 11/22/13 11:10 AM
To: Tuyen Dinh (tuyend@yahoo.com)
Cc: Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com); Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Hello Cậu Tuyên;
Cậu nói rất đúng. Mẹ cháu cũng nói là Dũng Vy chứ không phải là Dũng Vi. Không biết họ đổi từ bao giờ. Coi lại cuốn KYDV-1. Trang bìa Cậu Diệm viết là Dũng Vi, cháu đoán là Cậu Diệm cố tình viết "Dũng Vi" cho phù hợp với cổng (gate) của Giáo Đường Dũng Vi. Còn lại bên trong cuốn KYDV hoàn toàn là viết Dũng Vy, ngay cả cuốn Dũng Vy Quê Tôi của Cậu Đinh Văn Đích, cũng nói rất rõ là Dũng Vy.
Lúc đầu cháu biết Thức viết là Dũng Vi, cháu đã nói với Thức thay đổi thành "Vy". Hôm nay vô blog coi lại thì quả thật Thức đã sửa lại thành Dũng Vi everywhere.
Theo lời đề nghị chân thật của cháu: mình nên giữ tên gốc là Dũng Vy, đây là việc rất tế nhị cho nhiều người gốc Dũng Vy trong Nam và Hải Ngoại, mình cứ dùng những ngữ vững và chính tả theo VC đổi từ "y" thanh "i", chắc có thể nhiều người không thích.Chẳng hạn như sau khi Miền Nam thất thủ năm 1975. Thủ Đô Sài Gòn đã bị đổi tên thành TP Hồ Chí Minh. Những người Việt bên Hải Ngoại vẫn gọi là Sài Gòn, ngay cả nhiều người trong nước bây giờ cũng gọi là Sài Gòn chứ đâu gọi tên của Cụ HCM nữa đâu.
Cháu có bấy nhiêu lời thôi, còn quyết định sửa lại tên của Blog thì chuyện của Thức.
Cháu Thắng.
Thursday, November 21, 2013
Quá trình thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh
Thứ Tư, 10/03/2010 - 08:23
Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội, tên gọi của các đơn vị hành chính và địa giới hành chính ở Bắc Ninh có rất nhiều lần thay đổi. Trước đây, một số tác giả, như: Ngô Vi Liễn với công trình “Tên làng xã và địa dư các tỉnh Bắc kỳ”; Đinh Xuân Vịnh với “Sổ tay địa danh Việt Nam”,... có tìm hiểu về tên làng xã Việt Nam. Nhưng những công trình này chưa giúp bạn đọc thấy được sự thay đổi địa danh, địa giới hành chính các đơn vị xã, tổng, huyện, tỉnh ở nước ta trong lịch sử.
Trên cơ sở những ghi chép của thư tịch cổ, như “Thuỷ kinh chú” của Lịch Đạo Nguyên, “Đường thư” biên soạn vào đời Đường (thế kỷ VIII), “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Bản đồ Hồng Đức” (xuất hiện vào thế kỷ XV), “Các tổng, trấn, xã danh bị lãm” (biên soạn vào đầu đời Gia Long - khoảng 1808-1809), “Đồng Khánh địa dư chí” (biên soạn vào đời Đồng Khánh -1886), “Bắc Ninh dư địa chí” của Đỗ Trọng Vĩ; trên cơ sở các công trình nghiên cứu của các tác giả trước cách mạng tháng Tám năm 1945, như: "Bắc Ninh tỉnh chí” của Trịnh Như Tấu, “Địa lý hành chính Kinh Bắc” của Nguyễn Văn Huyên, “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh; trên cơ sở các văn bản luật, văn bản qui phạm pháp luật của Nhà nước qua các thời kỳ lịch sử, và đặc biệt, dựa trên kết quả khảo sát lâu dài của mình, tác giả Nguyễn Quang Khải đã có một công trình nghiên cứu công phu về quá trình thay đổi địa danh và địa giới hành chính của các tổng, xã, huyện của tỉnh Bắc Ninh qua các thời kỳ lịch sử.
Nhận thấy đây là một công trình nghiên cứu về địa-lịch sử có giá trị, Báo Bắc Ninh xin giới thiệu với bạn đọc công trình nghiên cứu dưới đây của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Khải, giúp bạn đọc phần nào thấy được sự phát triển qua các chặng đường lịch sử của tỉnh Bắc Ninh yêu quí của chúng ta.
TỔNG QUAN
Theo sách “Thuỷ Kinh chú” của Lịch Đạo Nguyên “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì thời Hùng Vương (2879 TNC-258 TCN) đất Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh. Thời thuộc Tần (307 TCN-206 TCN) được sáp nhập vào Tượng Quận (Trung Quốc); thời kỳ thuộc Hán (207 TCN - 39) là 2 huyện Luy Lâu và Long Biên trực thuộc quận Giao Chỉ. Thời Nam Tấn (265 - 279) là châu Vũ Ninh. Đầu thời thuộc Đường (618-721) là Châu Long. Thời Tiền Lê (980-1009) gọi là đạo Bắc Giang. Đầu thời Lý (thế kỷ XI) gọi là quận Gia Lâm.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” (tập II), tháng 2 năm Nhâm Dần (1242), vua Trần Thái Tông, chia nước ta làm 12 lộ, đất Bắc Ninh được gọi là lộ Bắc Giang, sau đó được gọi là lộ Kinh Bắc. Thời thuộc Minh (1414 - 1427) đất Bắc Ninh thuộc phủ Bắc Giang. Thời ấy, phủ Bắc Giang có 3 châu: Gia Lâm, Vũ Ninh, Bắc Giang. Trong đó, châu Gia Lâm có 3 huyện là An Định (tương đương với huyện Gia Bình bây giờ), Tế Giang (tương đương với huyện Văn Giang), Thiện Tài (tương đương với huyện Lương Tài bây giờ). Châu Vũ Ninh có 5 huyện: Tiên Du, Vũ Ninh (sau này đổi tên là Vũ Giang), Đông Ngàn, Từ Sơn, Yên Phong. Châu Bắc Giang có 3 huyện là Tân Phúc (tương đương với Đa Phúc), Thiện Thệ (tương đương với Hiệp Hoà và Việt Yên ngày nay). Hai huyện Siêu Loại và Gia Lâm trực thuộc châu Bắc Giang.
Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1425), nhà Minh đem các huyện Yên Phong, Vũ Ninh, Yên Việt trực thuộc vào châu Bắc Giang; sáp nhập huyện Siêu Loại (tức huyện Thuận Thành sau này) và huyện Đông Ngàn vào huyện Gia Lâm; đưa các huyện: Tế Giang, Thiện Tài, Từ Sơn, Thiện Thệ trực thuộc châu Bắc Giang.
Năm Thuận Thiên thứ nhất đời Lê (1428), đất Bắc Ninh thuộc Bắc Đạo. Đời Thiệu Bình (1434 - 1439), đất Bắc Ninh thuộc Bắc Giang hạ lộ. Năm Quang Thuận thứ 7 đời Lê (1466) gọi là Bắc Giang thừa tuyên, trên cơ sở Bắc Giang thượng lộ và Bắc Giang hạ lộ. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), khi xác định và vẽ lại bản đồ cả nước, Bắc Giang thừa tuyên được đổi thành Kinh Bắc thừa tuyên. Kinh Bắc thừa tuyên khi đó có 4 phủ, bao gồm 20 huyện:
- Phủ Thuận An (năm 1862 được đổi là phủ Thuận Thành) có 5 huyện: Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Gia Định (năm 1820 được đổi là huyện Gia Bình), Văn Giang.
- Phủ Từ Sơn có 5 huyện: Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du, Đông Ngàn, Yên Phong.
- Phủ Bắc Hà có 5 huyện: Tân Phúc (năm 1862 đổi là Đa Phúc), Hiệp Hoà, Kim Hoa (năm 1841 đổi là huyện Kim Anh), Yên Việt (năm 1824 đổi là huyện Việt Yên).
- Phủ Lạng Giang có 6 huyện: Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Thế, Bảo Lộc (đầu thế kỷ XX, huyện Bảo Lộc bị giải thể, phần đất của huyện Bảo Lộc khi đó được phân về huyện Lạng Giang và huyện Lục Ngạn), Lục Ngạn (bao gồm huyện Lục Ngạn và huyện Lục Nam sau này), Yên Dũng.
Đất Bắc Ninh sau này tương đương với phủ Thuận An và phủ Từ Sơn.
Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), trong bản đồ của nhà Lê ghi tên đất này là xứ Kinh Bắc. Sau gọi là trấn Kinh Bắc.
Thời Mạc (1527-1540), cắt phủ Thuận An về trực thuộc tỉnh Hải Dương. Năm Lê Quang Hưng thứ 16 (1593) phủ Thuận An lại cắt trả về Kinh Bắc.
Năm Gia Long thứ nhất (1802) vẫn gọi là trấn Kinh Bắc. Lúc này, trấn Kinh Bắc vẫn có 4 phủ với 20 huyện như năm 1469. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), gọi là tỉnh Bắc Ninh. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), triều Nguyễn đặt thêm 4 phân phủ là Từ Sơn, Lạng Giang, Thiên Phúc và Thuận An. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), hai phân phủ Từ Sơn và Thiên Phúc bị bãi bỏ. Như vậy đến năm 1852, tỉnh Bắc Ninh có 4 phủ, 2 phân phủ bao gồm 20 huyện.
Từ thời Lê trở về trước, trấn lỵ của Kinh Bắc đóng ở Đáp Cầu. Năm 1804 Gia Long chuyển trấn lỵ về địa điểm tiếp giáp của 3 xã Đỗ Xá (thuộc Võ Giàng), Khúc Toại (thuộc yên Phong), Hoà Đình (thuộc Tiên Du). (Địa điểm này được đặt làm tỉnh lỵ đến năm 1963).
Năm 1876, tách một phần huyện Đông Ngàn để thành lập huyện Đông Khê (sau đổi là Đông Anh). Năm 1893, 3 tổng của huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương được nhập vào huyện Lương Tài (do huyện Thanh Lâm giải thể). Đó là các tổng: An Trụ, Hoàng Kênh, Lại Thượng. Đồng thời cắt tổng Lương Tài của huyện Lương Tài về huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và cắt tổng An Tráng của huyện Lương Tài về huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.
Ngày 10 tháng 10 năm 1895, tại Nghị định số 1593 do toàn quyền Đông Dương Rousscau ký, tỉnh Bắc Giang được thành lập trên cơ sở tách 6 huyện từ tỉnh Bắc Ninh cũ. Đến đây, tỉnh Bắc Ninh (mới) có hai phủ (Thuận Thành, Từ Sơn) bao gồm 10 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Gia Lâm, Văn Giang, Siêu Loại, Gia Bình, Lương Tài, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong.
Năm 1905, tỉnh Phúc Yên được thành lập trên cơ sở tách huyện Đông Anh, Đa Phúc.
Năm 1912 huyện Siêu Loại được đổi tên là huyện Thuận Thành, huyện Đông Ngàn được đổi tên là huyện Từ Sơn. Cũng năm này tổng Đông Xá của huyện Thuận Thành được chuyển về huyện Gia Lâm tỉnh Hưng Yên.
Ngày 19 tháng 10 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định nâng cấp đơn vị hành chính thị xã Bắc Ninh lên thành phố loại III. Thành phố Bắc Ninh khi đó bao gồm toàn bộ khu vực Thị Cầu.
Tại Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước VNDCCH, ấn định nước ta có 7 thành phố, 73 đơn vị hành chính. Bắc Ninh thuộc chiến khu I.
Thực hiện Nghị định số 730-PCH ngày 28 tháng 5 năm 1946 và Nghị định sửa đổi ngày 26 tháng 7 năm 1946 của Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc bộ, thị xã Bắc Ninh được thành lập.
Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 1 năm 1948, cả nước được chia thành 14 khu, tỉnh Bắc Ninh thuộc khu 12. Từ tháng 1 năm 1948, khu I hợp nhất với khu 12 thành liên khu Việt Bắc. Bắc Ninh thuộc Liên khu Việt Bắc.
Ngày 6 tháng 6 năm 1947, chuyển huyện Văn Lâm trước kia thuộc tỉnh Hưng Yên về khu 12 (Bắc Ninh). Ngày 28 tháng 11 năm 1948 chuyển huyện Gia Lâm về tỉnh Hưng Yên. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1949 lại chuyển huyện Gia Lâm về tỉnh Bắc Ninh.
Tại vùng tạm chiếm, thực hiện Nghị định số 193/THP/NĐ ngày 26 tháng 1 năm 1950 của Thủ hiến Bắc Việt, tỉnh Bắc Ninh được gọi là tỉnh Gia Lâm (vì cơ quan hành chính đóng trên địa bàn Gia Lâm)
Tháng 8 năm 1950, hợp nhất hai huyện Gia Bình và Lương Tài thành 1 huyện lấy tên là huyện Gia Lương. Huyện lỵ của huyện đặt tại phố Thứa.
Ngày 26 tháng 4 năm 1951, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định số 2198- PTH/ NĐ thành lập thị xã Bắc Ninh trên cơ sở ba thị trấn: Bắc Ninh, Đáp Cầu, Thị Cầu. Chu vi thị xã Bắc Ninh: Bắc giáp Việt Yên, Nam giáp xã Phúc Đức và xã Phương Vĩ, Đông giáp Đạo Chân và xã Ngọc Đôi, Tây giáp xã Y Na và xã Cô Mễ
Năm 1958, chuyển huyện Văn Giang về tỉnh Hưng Yên.
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội khoá II, kỳ họp thứ 2 đã ban hành Nghị quyết: cắt 29 xã và một thị trấn, bao gồm: cả huyện Gia Lâm; 10 xã và 1 thị trấn của huyện Từ Sơn. Đó là các xã: Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Quang Trung, Đông Hội, Mai Lâm, Tiền Phong, Đình Xuyên, Dương Hà, Ninh Hiệp, thị trấn Yên Viên (thị trấn Yên Viên được thành lập theo Nghị định số 33-NV ngày 6 tháng 2 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ); hai xã: Phù Đổng, Trung Hưng (sau đổi lại là Trung Mầu) của huyện Tiên Du; hai xã: Đức Thắng, Chiến Thắng (sau đổi lại là xã Dương Xá và xã Dương Quang) của huyện Thuận Thành về thành phố Hà Nội.
Năm 1962, hợp nhất 2 huyện Quế Dương và Võ Giàng thành 1 huyện lấy tên là huyện Quế Võ. Huyện lỵ của huyện Quế Võ đóng tại phố Mới.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II, ngày 27 tháng 10 năm 1962 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành 1 tỉnh lấy tên là Hà Bắc. Tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang.
Ngày 14 tháng 3 năm 1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 25/QĐ, nhập 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn thành 1 huyện, lấy tên là huyện Tiên Sơn. Huyện lỵ đóng ở xã Vân Tương.
Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 84-CP hợp nhất huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong thành một huyện, lấy tên là huyện Tiên Phong; hợp nhất huyện Gia Lương với huyện Thuận Thành thành một huyện, lấy tên là huyện Gia Thuận. Nhưng hơn 4 năm sau, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tại Quyết định số 17-CP, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn đề nghị của UBHC tỉnh Hà Bắc thôi không sáp nhập huyện Tiên Sơn với huyện Yên Phong, huyện Gia Lương với huyện Thuận Thành nữa!
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX, Quốc hội Nước cộng hoà XHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc chia tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh, lấy tên là Bắc Ninh và Bắc Giang. Lúc này tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 5 huyện và 1 thị xã (Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong và TX Bắc Ninh) với diện tích đất tự nhiên là 797,2 km2 và 922.210 nhân khẩu.
Ngày 11 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/1999/NĐ-CP tách huyện Tiên Sơn thành 2 huyện lấy tên là huyện Tiên Du và huyện Từ Sơn; tách huyện Gia Lương thành 2 huyện lấy tên là huyện Gia Bình và huyện Lương Tài. Huyện lỵ Từ Sơn đóng tại thị trấn Từ Sơn, huyện lỵ Tiên Du đóng tại thị trấn Lim; huyện lỵ Lương Tài đóng tại thị trấn Thứa, huyện lỵ Gia Bình đóng tại xã Xuân Lai.
Ngày 25 tháng 01 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2001/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích đất tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bắc Ninh. Khi đó, thành phố Bắc Ninh có 26,34 km2 diện tích đất tự nhiên, 121.028 nhân khẩu và 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Tiền An, Ninh Xá, Vệ An, Kinh Bắc, Đại Phúc và xã Võ Cường.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủ ban hành nghị định số 01/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn trên cơ sở toàn bộ diện tích đất tự nhiên và dân số của huyện Từ Sơn.
Cho đến ngày 01 tháng 4 năm 2009, tỉnh Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã. Đó là các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, Tiên Du, Quế Võ, Yên Phong, thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn, bao gồm 1.024.151 nhân khẩu, trong đó có 503.200 nam, 520.951 nữ.
Nguyễn Quang Khải
(Còn nữa)
Nhận thấy đây là một công trình nghiên cứu về địa-lịch sử có giá trị, Báo Bắc Ninh xin giới thiệu với bạn đọc công trình nghiên cứu dưới đây của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Khải, giúp bạn đọc phần nào thấy được sự phát triển qua các chặng đường lịch sử của tỉnh Bắc Ninh yêu quí của chúng ta.
TỔNG QUAN
Theo sách “Thuỷ Kinh chú” của Lịch Đạo Nguyên “Dư địa chí” của Nguyễn Trãi, “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn thì thời Hùng Vương (2879 TNC-258 TCN) đất Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh. Thời thuộc Tần (307 TCN-206 TCN) được sáp nhập vào Tượng Quận (Trung Quốc); thời kỳ thuộc Hán (207 TCN - 39) là 2 huyện Luy Lâu và Long Biên trực thuộc quận Giao Chỉ. Thời Nam Tấn (265 - 279) là châu Vũ Ninh. Đầu thời thuộc Đường (618-721) là Châu Long. Thời Tiền Lê (980-1009) gọi là đạo Bắc Giang. Đầu thời Lý (thế kỷ XI) gọi là quận Gia Lâm.
Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” (tập II), tháng 2 năm Nhâm Dần (1242), vua Trần Thái Tông, chia nước ta làm 12 lộ, đất Bắc Ninh được gọi là lộ Bắc Giang, sau đó được gọi là lộ Kinh Bắc. Thời thuộc Minh (1414 - 1427) đất Bắc Ninh thuộc phủ Bắc Giang. Thời ấy, phủ Bắc Giang có 3 châu: Gia Lâm, Vũ Ninh, Bắc Giang. Trong đó, châu Gia Lâm có 3 huyện là An Định (tương đương với huyện Gia Bình bây giờ), Tế Giang (tương đương với huyện Văn Giang), Thiện Tài (tương đương với huyện Lương Tài bây giờ). Châu Vũ Ninh có 5 huyện: Tiên Du, Vũ Ninh (sau này đổi tên là Vũ Giang), Đông Ngàn, Từ Sơn, Yên Phong. Châu Bắc Giang có 3 huyện là Tân Phúc (tương đương với Đa Phúc), Thiện Thệ (tương đương với Hiệp Hoà và Việt Yên ngày nay). Hai huyện Siêu Loại và Gia Lâm trực thuộc châu Bắc Giang.
Năm Vĩnh Lạc thứ 13 (1425), nhà Minh đem các huyện Yên Phong, Vũ Ninh, Yên Việt trực thuộc vào châu Bắc Giang; sáp nhập huyện Siêu Loại (tức huyện Thuận Thành sau này) và huyện Đông Ngàn vào huyện Gia Lâm; đưa các huyện: Tế Giang, Thiện Tài, Từ Sơn, Thiện Thệ trực thuộc châu Bắc Giang.
Năm Thuận Thiên thứ nhất đời Lê (1428), đất Bắc Ninh thuộc Bắc Đạo. Đời Thiệu Bình (1434 - 1439), đất Bắc Ninh thuộc Bắc Giang hạ lộ. Năm Quang Thuận thứ 7 đời Lê (1466) gọi là Bắc Giang thừa tuyên, trên cơ sở Bắc Giang thượng lộ và Bắc Giang hạ lộ. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), khi xác định và vẽ lại bản đồ cả nước, Bắc Giang thừa tuyên được đổi thành Kinh Bắc thừa tuyên. Kinh Bắc thừa tuyên khi đó có 4 phủ, bao gồm 20 huyện:
- Phủ Thuận An (năm 1862 được đổi là phủ Thuận Thành) có 5 huyện: Gia Lâm, Lương Tài, Siêu Loại, Gia Định (năm 1820 được đổi là huyện Gia Bình), Văn Giang.
- Phủ Từ Sơn có 5 huyện: Quế Dương, Võ Giàng, Tiên Du, Đông Ngàn, Yên Phong.
- Phủ Bắc Hà có 5 huyện: Tân Phúc (năm 1862 đổi là Đa Phúc), Hiệp Hoà, Kim Hoa (năm 1841 đổi là huyện Kim Anh), Yên Việt (năm 1824 đổi là huyện Việt Yên).
- Phủ Lạng Giang có 6 huyện: Phượng Nhỡn, Hữu Lũng, Yên Thế, Bảo Lộc (đầu thế kỷ XX, huyện Bảo Lộc bị giải thể, phần đất của huyện Bảo Lộc khi đó được phân về huyện Lạng Giang và huyện Lục Ngạn), Lục Ngạn (bao gồm huyện Lục Ngạn và huyện Lục Nam sau này), Yên Dũng.
Đất Bắc Ninh sau này tương đương với phủ Thuận An và phủ Từ Sơn.
Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), trong bản đồ của nhà Lê ghi tên đất này là xứ Kinh Bắc. Sau gọi là trấn Kinh Bắc.
Thời Mạc (1527-1540), cắt phủ Thuận An về trực thuộc tỉnh Hải Dương. Năm Lê Quang Hưng thứ 16 (1593) phủ Thuận An lại cắt trả về Kinh Bắc.
Năm Gia Long thứ nhất (1802) vẫn gọi là trấn Kinh Bắc. Lúc này, trấn Kinh Bắc vẫn có 4 phủ với 20 huyện như năm 1469. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên trấn Kinh Bắc thành trấn Bắc Ninh. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), gọi là tỉnh Bắc Ninh. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), triều Nguyễn đặt thêm 4 phân phủ là Từ Sơn, Lạng Giang, Thiên Phúc và Thuận An. Năm Tự Đức thứ 5 (1852), hai phân phủ Từ Sơn và Thiên Phúc bị bãi bỏ. Như vậy đến năm 1852, tỉnh Bắc Ninh có 4 phủ, 2 phân phủ bao gồm 20 huyện.
Từ thời Lê trở về trước, trấn lỵ của Kinh Bắc đóng ở Đáp Cầu. Năm 1804 Gia Long chuyển trấn lỵ về địa điểm tiếp giáp của 3 xã Đỗ Xá (thuộc Võ Giàng), Khúc Toại (thuộc yên Phong), Hoà Đình (thuộc Tiên Du). (Địa điểm này được đặt làm tỉnh lỵ đến năm 1963).
Năm 1876, tách một phần huyện Đông Ngàn để thành lập huyện Đông Khê (sau đổi là Đông Anh). Năm 1893, 3 tổng của huyện Thanh Lâm, phủ Nam Sách tỉnh Hải Dương được nhập vào huyện Lương Tài (do huyện Thanh Lâm giải thể). Đó là các tổng: An Trụ, Hoàng Kênh, Lại Thượng. Đồng thời cắt tổng Lương Tài của huyện Lương Tài về huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên và cắt tổng An Tráng của huyện Lương Tài về huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương.
Ngày 10 tháng 10 năm 1895, tại Nghị định số 1593 do toàn quyền Đông Dương Rousscau ký, tỉnh Bắc Giang được thành lập trên cơ sở tách 6 huyện từ tỉnh Bắc Ninh cũ. Đến đây, tỉnh Bắc Ninh (mới) có hai phủ (Thuận Thành, Từ Sơn) bao gồm 10 huyện: Đông Ngàn, Tiên Du, Gia Lâm, Văn Giang, Siêu Loại, Gia Bình, Lương Tài, Quế Dương, Võ Giàng, Yên Phong.
Năm 1905, tỉnh Phúc Yên được thành lập trên cơ sở tách huyện Đông Anh, Đa Phúc.
Năm 1912 huyện Siêu Loại được đổi tên là huyện Thuận Thành, huyện Đông Ngàn được đổi tên là huyện Từ Sơn. Cũng năm này tổng Đông Xá của huyện Thuận Thành được chuyển về huyện Gia Lâm tỉnh Hưng Yên.
Ngày 19 tháng 10 năm 1938, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định nâng cấp đơn vị hành chính thị xã Bắc Ninh lên thành phố loại III. Thành phố Bắc Ninh khi đó bao gồm toàn bộ khu vực Thị Cầu.
Tại Sắc lệnh số 51 ngày 17 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước VNDCCH, ấn định nước ta có 7 thành phố, 73 đơn vị hành chính. Bắc Ninh thuộc chiến khu I.
Thực hiện Nghị định số 730-PCH ngày 28 tháng 5 năm 1946 và Nghị định sửa đổi ngày 26 tháng 7 năm 1946 của Chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc bộ, thị xã Bắc Ninh được thành lập.
Từ tháng 12 năm 1946 đến tháng 1 năm 1948, cả nước được chia thành 14 khu, tỉnh Bắc Ninh thuộc khu 12. Từ tháng 1 năm 1948, khu I hợp nhất với khu 12 thành liên khu Việt Bắc. Bắc Ninh thuộc Liên khu Việt Bắc.
Ngày 6 tháng 6 năm 1947, chuyển huyện Văn Lâm trước kia thuộc tỉnh Hưng Yên về khu 12 (Bắc Ninh). Ngày 28 tháng 11 năm 1948 chuyển huyện Gia Lâm về tỉnh Hưng Yên. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1949 lại chuyển huyện Gia Lâm về tỉnh Bắc Ninh.
Tại vùng tạm chiếm, thực hiện Nghị định số 193/THP/NĐ ngày 26 tháng 1 năm 1950 của Thủ hiến Bắc Việt, tỉnh Bắc Ninh được gọi là tỉnh Gia Lâm (vì cơ quan hành chính đóng trên địa bàn Gia Lâm)
Tháng 8 năm 1950, hợp nhất hai huyện Gia Bình và Lương Tài thành 1 huyện lấy tên là huyện Gia Lương. Huyện lỵ của huyện đặt tại phố Thứa.
Ngày 26 tháng 4 năm 1951, Thủ hiến Bắc Việt ban hành Nghị định số 2198- PTH/ NĐ thành lập thị xã Bắc Ninh trên cơ sở ba thị trấn: Bắc Ninh, Đáp Cầu, Thị Cầu. Chu vi thị xã Bắc Ninh: Bắc giáp Việt Yên, Nam giáp xã Phúc Đức và xã Phương Vĩ, Đông giáp Đạo Chân và xã Ngọc Đôi, Tây giáp xã Y Na và xã Cô Mễ
Năm 1958, chuyển huyện Văn Giang về tỉnh Hưng Yên.
Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội khoá II, kỳ họp thứ 2 đã ban hành Nghị quyết: cắt 29 xã và một thị trấn, bao gồm: cả huyện Gia Lâm; 10 xã và 1 thị trấn của huyện Từ Sơn. Đó là các xã: Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Quang Trung, Đông Hội, Mai Lâm, Tiền Phong, Đình Xuyên, Dương Hà, Ninh Hiệp, thị trấn Yên Viên (thị trấn Yên Viên được thành lập theo Nghị định số 33-NV ngày 6 tháng 2 năm 1959 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ); hai xã: Phù Đổng, Trung Hưng (sau đổi lại là Trung Mầu) của huyện Tiên Du; hai xã: Đức Thắng, Chiến Thắng (sau đổi lại là xã Dương Xá và xã Dương Quang) của huyện Thuận Thành về thành phố Hà Nội.
Năm 1962, hợp nhất 2 huyện Quế Dương và Võ Giàng thành 1 huyện lấy tên là huyện Quế Võ. Huyện lỵ của huyện Quế Võ đóng tại phố Mới.
Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II, ngày 27 tháng 10 năm 1962 Quốc hội đã ban hành Nghị quyết hợp nhất 2 tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành 1 tỉnh lấy tên là Hà Bắc. Tỉnh lỵ đóng ở thị xã Bắc Giang.
Ngày 14 tháng 3 năm 1963, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 25/QĐ, nhập 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn thành 1 huyện, lấy tên là huyện Tiên Sơn. Huyện lỵ đóng ở xã Vân Tương.
Ngày 4 tháng 6 năm 1969, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 84-CP hợp nhất huyện Tiên Sơn và huyện Yên Phong thành một huyện, lấy tên là huyện Tiên Phong; hợp nhất huyện Gia Lương với huyện Thuận Thành thành một huyện, lấy tên là huyện Gia Thuận. Nhưng hơn 4 năm sau, ngày 19 tháng 1 năm 1974, tại Quyết định số 17-CP, Hội đồng Chính phủ phê chuẩn đề nghị của UBHC tỉnh Hà Bắc thôi không sáp nhập huyện Tiên Sơn với huyện Yên Phong, huyện Gia Lương với huyện Thuận Thành nữa!
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khoá IX, Quốc hội Nước cộng hoà XHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc chia tỉnh Hà Bắc thành 2 tỉnh, lấy tên là Bắc Ninh và Bắc Giang. Lúc này tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 5 huyện và 1 thị xã (Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong và TX Bắc Ninh) với diện tích đất tự nhiên là 797,2 km2 và 922.210 nhân khẩu.
Ngày 11 tháng 8 năm 1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 68/1999/NĐ-CP tách huyện Tiên Sơn thành 2 huyện lấy tên là huyện Tiên Du và huyện Từ Sơn; tách huyện Gia Lương thành 2 huyện lấy tên là huyện Gia Bình và huyện Lương Tài. Huyện lỵ Từ Sơn đóng tại thị trấn Từ Sơn, huyện lỵ Tiên Du đóng tại thị trấn Lim; huyện lỵ Lương Tài đóng tại thị trấn Thứa, huyện lỵ Gia Bình đóng tại xã Xuân Lai.
Ngày 25 tháng 01 năm 2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2001/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích đất tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Bắc Ninh. Khi đó, thành phố Bắc Ninh có 26,34 km2 diện tích đất tự nhiên, 121.028 nhân khẩu và 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các phường: Đáp Cầu, Thị Cầu, Vũ Ninh, Suối Hoa, Tiền An, Ninh Xá, Vệ An, Kinh Bắc, Đại Phúc và xã Võ Cường.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủ ban hành nghị định số 01/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn trên cơ sở toàn bộ diện tích đất tự nhiên và dân số của huyện Từ Sơn.
Cho đến ngày 01 tháng 4 năm 2009, tỉnh Bắc Ninh có 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 6 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã. Đó là các huyện: Gia Bình, Lương Tài, Thuận Thành, Tiên Du, Quế Võ, Yên Phong, thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn, bao gồm 1.024.151 nhân khẩu, trong đó có 503.200 nam, 520.951 nữ.
Nguyễn Quang Khải
(Còn nữa)
Source Bac Ninh Online
Tuesday, November 19, 2013
Kính gửi Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Dũng Vy - Đinh Văn Diệm
From: Van Diem Dinh (lamthydvd@gmail.com)
Sent: Sun 11/17/13 9:33 PM
To: Khai Nguyen (phaolo200930@yahoo.com); Tuyen Dinh (tuyend@yahoo.com); Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com); Thức Đinh (dthuc@live.com)
2 attachments (total 140.0 KB)
QUYỀN NĂNG TỐI THƯỢNG CN.XXXPV.TN-C.doc
NGUỒN ÂN SỦNG BẤT TẬN.doc
---------- Thư đã chuyển tiếp ----------
Từ: Van Diem Dinh <lamthydvd gmail.com="">
Ngày: 12:28 Ngày 18 tháng 11 năm 2013
Chủ đề: Quyên tiền trùng tu Thánh đường Dũng Vy
Đến: nguyenbt@tanthanhdong.com
Saigon ngày 18 tháng 11 năm 2013
Kính gửi Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Dũng Vy,
Cháu Thắng vừa gọi điện về cho biết: Trong đợt quyên tiền trùng tu Thánh đường và Vườn Thánh Giáo xứ Dũng Vy vừa qua, có một ân nhân là phụ huynh người bạn thân của cháu Thắng có hứa sẽ dâng cúng cho công việc lành thánh này của Giáo xứ nhà số tiền $1.000USD (một ngàn dollars Mỹ). Nhưng đến khi quyết toán thì họ chưa thực hiện được (vì lý do chưa bán được căn nhà nên chưa có tiền). Tới ngày 14/11/2013 vừa rồi, họ bán được nhà và có mời cháu Thắng tới liên hoan, đồng thời gửi Thắng số tiền (nêu trên).
Thật là một tấm lòng quảng đại của một ân nhân không phải đồng hương Dũng Vy, mà chỉ là bạn tâm giao của cháu Thắng, khiến bản thân tôi tâm phục khẩu phục. Với cháu Thắng thì đây lại một lần nữa chứng tỏ cháu đã có một tấm chân tình hướng về nguồn cội rất đáng khen ngợi. Tuy nhiên, cũng hơi khó cho cháu vì phải làm thế nào chứng minh cho ân nhân hiểu rõ được lòng hảo tâm của họ đã được đón nhận một cách trân trọng. Vì thế, cháu Thắng gọi điện về cho tôi để liên lạc trước với quý vị trong Hội đồng Mục vụ Giáo xứ nhà. Mong rằng quý vị khi nhận được tiền thì có thư cảm ơn, kèm theo một tấm hình có đầy đủ Hội đồng Mục vụ.
Ngày 22/11 tới đây (giỗ Thầy già Tín) là ngày khánh thành công trình, tôi có được mời về chung vui, nhưng tiếc rằng sức khỏe rất kém, không về được, xin gửi lời chúc mừng tới toàn thể Giáo xứ. Dịp này lại nhằm vào dịp toàn thể Hội Thánh mừng kính Đức Giê-su Vua Vũ Trụ (24/11), đồng thời Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ Các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam (cũng là ngày 24/11 hàng năm, nhưng năm nay vì trùng với lễ Ki-tô Vua, nên được dời lại ngày 25/11). Vì thế, xin gửi đến quý vị để cùng suy niệm 2 bài viết (QUYỀN NĂNG TỐI THƯỢNG & NGUỒN ÂN SỦNG BẤT TẬN) về 2 ngày lễ trọng đại nêu trên (đã đăng trên trang Mạng Lưới Cầu Nguyện Thánh Linh toàn cầu www.thanhlinh.net và trang web Đạo Binh Đức Mẹ www.daobinhducme.net
Thân kính,
Joseph Maria Lam Thy Đinh Văn Diệm.
-----------
Cháu Nguyên thân mến,
Cháu in email này (kể cả 2 file đính kèm) về trao cho Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Dũng Vy. Đồng thời, cháu nói với ông Trùm Nam gọi điện cho bác để trao đổi thêm. Bác cảm ơn nhiều.
Bác Diệm.
Sent: Sun 11/17/13 9:33 PM
To: Khai Nguyen (phaolo200930@yahoo.com); Tuyen Dinh (tuyend@yahoo.com); Tony Thang Dinh (todi_1999@yahoo.com); Thức Đinh (dthuc@live.com)
2 attachments (total 140.0 KB)
QUYỀN NĂNG TỐI THƯỢNG CN.XXXPV.TN-C.doc
NGUỒN ÂN SỦNG BẤT TẬN.doc
---------- Thư đã chuyển tiếp ----------
Từ: Van Diem Dinh <lamthydvd gmail.com="">
Ngày: 12:28 Ngày 18 tháng 11 năm 2013
Chủ đề: Quyên tiền trùng tu Thánh đường Dũng Vy
Đến: nguyenbt@tanthanhdong.com
Saigon ngày 18 tháng 11 năm 2013
Kính gửi Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Dũng Vy,
Cháu Thắng vừa gọi điện về cho biết: Trong đợt quyên tiền trùng tu Thánh đường và Vườn Thánh Giáo xứ Dũng Vy vừa qua, có một ân nhân là phụ huynh người bạn thân của cháu Thắng có hứa sẽ dâng cúng cho công việc lành thánh này của Giáo xứ nhà số tiền $1.000USD (một ngàn dollars Mỹ). Nhưng đến khi quyết toán thì họ chưa thực hiện được (vì lý do chưa bán được căn nhà nên chưa có tiền). Tới ngày 14/11/2013 vừa rồi, họ bán được nhà và có mời cháu Thắng tới liên hoan, đồng thời gửi Thắng số tiền (nêu trên).
Thật là một tấm lòng quảng đại của một ân nhân không phải đồng hương Dũng Vy, mà chỉ là bạn tâm giao của cháu Thắng, khiến bản thân tôi tâm phục khẩu phục. Với cháu Thắng thì đây lại một lần nữa chứng tỏ cháu đã có một tấm chân tình hướng về nguồn cội rất đáng khen ngợi. Tuy nhiên, cũng hơi khó cho cháu vì phải làm thế nào chứng minh cho ân nhân hiểu rõ được lòng hảo tâm của họ đã được đón nhận một cách trân trọng. Vì thế, cháu Thắng gọi điện về cho tôi để liên lạc trước với quý vị trong Hội đồng Mục vụ Giáo xứ nhà. Mong rằng quý vị khi nhận được tiền thì có thư cảm ơn, kèm theo một tấm hình có đầy đủ Hội đồng Mục vụ.
Ngày 22/11 tới đây (giỗ Thầy già Tín) là ngày khánh thành công trình, tôi có được mời về chung vui, nhưng tiếc rằng sức khỏe rất kém, không về được, xin gửi lời chúc mừng tới toàn thể Giáo xứ. Dịp này lại nhằm vào dịp toàn thể Hội Thánh mừng kính Đức Giê-su Vua Vũ Trụ (24/11), đồng thời Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ Các Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam (cũng là ngày 24/11 hàng năm, nhưng năm nay vì trùng với lễ Ki-tô Vua, nên được dời lại ngày 25/11). Vì thế, xin gửi đến quý vị để cùng suy niệm 2 bài viết (QUYỀN NĂNG TỐI THƯỢNG & NGUỒN ÂN SỦNG BẤT TẬN) về 2 ngày lễ trọng đại nêu trên (đã đăng trên trang Mạng Lưới Cầu Nguyện Thánh Linh toàn cầu www.thanhlinh.net và trang web Đạo Binh Đức Mẹ www.daobinhducme.net
Thân kính,
Joseph Maria Lam Thy Đinh Văn Diệm.
-----------
Cháu Nguyên thân mến,
Cháu in email này (kể cả 2 file đính kèm) về trao cho Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Dũng Vy. Đồng thời, cháu nói với ông Trùm Nam gọi điện cho bác để trao đổi thêm. Bác cảm ơn nhiều.
Bác Diệm.
Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
Để thống nhất tên Làng Dũng Vi. Căn cứ trên những tài liệu, văn bản lưu hành chính thức dưới đây. Blog KYDV sẽ sử dụng tên Làng Dũng Vi thay vì Làng Dũng Vy:
1- Bắc Ninh Tỉnh, Tiên Du Huyện, Dũng Vi Tổng các xã thần sắc. Tài liệu của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (Ảnh đính kèm).
2- Các tập Kỷ Yếu Dũng Vi 1 và 2 đã ấn hành và phổ biến. (Ảnh đính kèm)
3- Website Giáo họ Dũng Vi Giáo xứ Cẩm Giang. (Link đính kèm)
4- 4 chữ "THÁNH ĐƯỜNG DŨNG VI" xây trên cổng vào Thánh Đường (Xem ảnh dưới)
5- Tên làng lân cận, Làng Đại Vi (Bài đã đăng) Blog KYDV.
.....
1- Bắc Ninh Tỉnh, Tiên Du Huyện, Dũng Vi Tổng các xã thần sắc. Tài liệu của Viện Nghiên Cứu Hán Nôm (Ảnh đính kèm).
2- Các tập Kỷ Yếu Dũng Vi 1 và 2 đã ấn hành và phổ biến. (Ảnh đính kèm)
3- Website Giáo họ Dũng Vi Giáo xứ Cẩm Giang. (Link đính kèm)
4- 4 chữ "THÁNH ĐƯỜNG DŨNG VI" xây trên cổng vào Thánh Đường (Xem ảnh dưới)
5- Tên làng lân cận, Làng Đại Vi (Bài đã đăng) Blog KYDV.
.....
Blog KYDV
19-11-2013
----------
Bài viết liên quan:
- Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
- Quê hương qua Ca dao: Ba cô đội gạo lên chùa - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Thằng Cuội - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 8 Con Chuột - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bánh Bèo - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bán Rượu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Yêu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Lo - Đinh Thức
- Đình Dũng Vi - Blog KYDV
- Những tên gọi của làng Dũng Vi
- Những tên gọi của làng Dũng Vi (Tiếp theo)
- Thần Sắc và Thần Tích xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Thần Sắc và những vị Thành Hoàng làng Dũng Vi
- Văn Chỉ làng Dũng Vi
- Quê hương qua Ca dao: Cái Bống - Nhạc: Đinh Thức
Bài viết liên quan:
- Tên Làng: Dũng Vi hay Dũng Vy ?
- Quê hương qua Ca dao: Ba cô đội gạo lên chùa - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Thằng Cuội - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 8 Con Chuột - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bánh Bèo - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: Bán Rượu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Yêu - Đinh Thức
- Quê hương qua Ca dao: 10 Lo - Đinh Thức
- Đình Dũng Vi - Blog KYDV
- Những tên gọi của làng Dũng Vi
- Những tên gọi của làng Dũng Vi (Tiếp theo)
- Thần Sắc và Thần Tích xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
- Thần Sắc và những vị Thành Hoàng làng Dũng Vi
- Văn Chỉ làng Dũng Vi
- Quê hương qua Ca dao: Cái Bống - Nhạc: Đinh Thức
Friday, November 15, 2013
Đồng hương tâm sự: Gửi anh Thức và anh Thắng !
From: Đinh Văn Thơi (thoidv@nhnn.daklak.gov.vn)
Sent: Thu 11/14/13 1:05 PM
To: dthuc@live.com; todi_1999@yahoo.com
Còn một số tấm ảnh về việc tu bổ, xây dựng lại nghĩa trang của Thôn Giáo tại Đồng Quan (gần Lò Ngói): gồm có các bác Đinh Văn Hoạt, bác Nguyễn Thế Nam, chú Đinh Văn Hải, Thạch Ngọc Lễ,..
Em thỉnh thoảng cũng hay về quê do đi công tác và kết hợp về nhà.
Do điều kiện lần đầu em mạnh dạn gửi thư để liên lạc với các anh và mong các anh thông cảm cho.
----------
----------
From: Tony Thang Đinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Fri 11/15/13 8:26 PM
To: Đinh Văn Thơi (thoidv@nhnn.daklak.gov.vn)
Cc: Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Hello Thơi;
Rất hân hạnh được biết em. Có bạn bè nào giới thiệu Kỷ Yếu Dũng Vy cho thêm phần phong phú. Dũng Vy là nơi chung, không phân biệt Thôn Lương hay Thôn Giáo. Nguyên thủy chỉ có một Dũng Vy mà thôi.
Em nói rất đúng, những hình ảnh mà trung tu nghĩa trang 2013 là anh Nguyễn Thế Nam, anh Đinh Văn Hoạt, anh Lễ, và em Hải, còn hai người nữa anh không biết tên. Những người anh nói trên là anh em họ hàng với anh Thắng. Thật đúng em là người Dũng Vy, mà em đã từng sống ở đó, cho nên tụi anh cần em tham gia góp bài cho KYDV để duy trì trang blog.
Lúc này anh đang busy, cho nên chưa tham gia được nhiều, những từ từ anh sẽ gửi bài cho Thức đăng lên KYDV.
Anh và nhà Thức đã trên 50 tuổi rồi. Hai anh chưa bao giờ sống ở Dũng Vy hết, tụi anh đều sanh trong Saigon. Tuy nhiên anh có về Dũng Vy hai lần để lo chuyện tu sửa nhà thờ. Nói cho em biết cách xưng hô thôi, tụi anh không có muốn khoe tuổi tác đâu vì mình đã bắt đầu bước vào tóc hai màu lâu rồi.
Cảm ơn em đã cho anh biết những tin tức thêm, anh cũng nhờ em giới thiệu bạn bè gốc Dũng Vy mà hiện đang ở xa Dũng Vy nhé
Anh Thắng.
Sent: Thu 11/14/13 1:05 PM
To: dthuc@live.com; todi_1999@yahoo.com
Chào các Anh,
Em tên là Đinh Văn Thơi, sinh năm 1976 tại Thôn Lương, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nhà em ở gần chợ Ve, con đường đi từ cổng đình Thôn Lương đi xuống xóm Vườn Thứ). Em vô tình vào mạng và tìm thấy tên, địa chỉ của anh ở trong Kỷ Yếu Dũng Vy.
Hiện nay, em đang công tác sinh sống và làm việc tại Buôn Ma Thuột (từ năm 2010); thỉnh thoảng em có đi sang bên Lâm Đồng và gặp một số bà con ở Thôn Giáo di cư vào sinh sống tại khu Cư xá huyện Đức Trọng, Lâm Đồng (gồm có bác Phan Văn Tản, anh Phan Văn Bình "ở quê là con của ông bà vi veo", bác Đinh Văn Tô (ở Lâm Hà, em học cùng với Đinh Văn Thức con của Bác Tô)). Em xin kể ra một số bà con đồng hương để cho các anh xác minh.
Em tên là Đinh Văn Thơi, sinh năm 1976 tại Thôn Lương, xã Tri Phương, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh (nhà em ở gần chợ Ve, con đường đi từ cổng đình Thôn Lương đi xuống xóm Vườn Thứ). Em vô tình vào mạng và tìm thấy tên, địa chỉ của anh ở trong Kỷ Yếu Dũng Vy.
Hiện nay, em đang công tác sinh sống và làm việc tại Buôn Ma Thuột (từ năm 2010); thỉnh thoảng em có đi sang bên Lâm Đồng và gặp một số bà con ở Thôn Giáo di cư vào sinh sống tại khu Cư xá huyện Đức Trọng, Lâm Đồng (gồm có bác Phan Văn Tản, anh Phan Văn Bình "ở quê là con của ông bà vi veo", bác Đinh Văn Tô (ở Lâm Hà, em học cùng với Đinh Văn Thức con của Bác Tô)). Em xin kể ra một số bà con đồng hương để cho các anh xác minh.
Còn một số tấm ảnh về việc tu bổ, xây dựng lại nghĩa trang của Thôn Giáo tại Đồng Quan (gần Lò Ngói): gồm có các bác Đinh Văn Hoạt, bác Nguyễn Thế Nam, chú Đinh Văn Hải, Thạch Ngọc Lễ,..
Em thỉnh thoảng cũng hay về quê do đi công tác và kết hợp về nhà.
Do điều kiện lần đầu em mạnh dạn gửi thư để liên lạc với các anh và mong các anh thông cảm cho.
----------
| From: | Thuc Dinh (dthuc@live.com) |
| Sent: | Fri 11/15/13 9:30 AM |
| To: | Đinh Văn Thơi (thoidv@nhnn.daklak.gov.vn); Thang Tony Dinh Van (todi_1999@yahoo.com); Diem Dinh Van (lamthydvd@gmail.com); Tuyen Dinh Van (tuyend@yahoo.com) |
Chào bạn Thơi
Cảm ơn bạn đã Email cho Blog KYDV. Thật vui và hân hạnh vì đã có những đồng hương Dũng Vi ở quê nhà có được liên lạc với đồng hương khắp nơi...
Blog cũng sẽ đăng và gởi Email bạn đến các vị trưởng lão trong làng vì các vị hiểu biết về gốc tích liên hệ trong làng nhiều hơn...
Mong bạn giữ liên lạc và gởi thêm hình ảnh, bài viết hoặc những tư liệu liên quan đến làng xã (nếu có) để mọi người cùng chia sẻ...
Chào thân ái
Blog KYDV
Cảm ơn bạn đã Email cho Blog KYDV. Thật vui và hân hạnh vì đã có những đồng hương Dũng Vi ở quê nhà có được liên lạc với đồng hương khắp nơi...
Blog cũng sẽ đăng và gởi Email bạn đến các vị trưởng lão trong làng vì các vị hiểu biết về gốc tích liên hệ trong làng nhiều hơn...
Mong bạn giữ liên lạc và gởi thêm hình ảnh, bài viết hoặc những tư liệu liên quan đến làng xã (nếu có) để mọi người cùng chia sẻ...
Chào thân ái
Blog KYDV
From: Tony Thang Đinh (todi_1999@yahoo.com)
Sent: Fri 11/15/13 8:26 PM
To: Đinh Văn Thơi (thoidv@nhnn.daklak.gov.vn)
Cc: Thuc Dinh (dthuc@live.com)
Hello Thơi;
Rất hân hạnh được biết em. Có bạn bè nào giới thiệu Kỷ Yếu Dũng Vy cho thêm phần phong phú. Dũng Vy là nơi chung, không phân biệt Thôn Lương hay Thôn Giáo. Nguyên thủy chỉ có một Dũng Vy mà thôi.
Em nói rất đúng, những hình ảnh mà trung tu nghĩa trang 2013 là anh Nguyễn Thế Nam, anh Đinh Văn Hoạt, anh Lễ, và em Hải, còn hai người nữa anh không biết tên. Những người anh nói trên là anh em họ hàng với anh Thắng. Thật đúng em là người Dũng Vy, mà em đã từng sống ở đó, cho nên tụi anh cần em tham gia góp bài cho KYDV để duy trì trang blog.
Lúc này anh đang busy, cho nên chưa tham gia được nhiều, những từ từ anh sẽ gửi bài cho Thức đăng lên KYDV.
Anh và nhà Thức đã trên 50 tuổi rồi. Hai anh chưa bao giờ sống ở Dũng Vy hết, tụi anh đều sanh trong Saigon. Tuy nhiên anh có về Dũng Vy hai lần để lo chuyện tu sửa nhà thờ. Nói cho em biết cách xưng hô thôi, tụi anh không có muốn khoe tuổi tác đâu vì mình đã bắt đầu bước vào tóc hai màu lâu rồi.
Cảm ơn em đã cho anh biết những tin tức thêm, anh cũng nhờ em giới thiệu bạn bè gốc Dũng Vy mà hiện đang ở xa Dũng Vy nhé
Anh Thắng.
Thursday, November 7, 2013
Cổ vật Bắc Ninh - Dấu ấn chiều sâu văn hóa (07/01/2010)
Với những đá, đồng, gốm, sứ, gỗ, kẽm, giấy… mang trên mình dấu ấn của thời gian, 1.200 hiện vật tại cuộc trưng bày “Cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh” lần thứ Nhất diễn ra tại Bảo tàng tỉnh cuối năm 2009 đã đem đến cho người xem nhiều cảm nhận khác nhau về chiều sâu văn hoá Kinh Bắc.
Ai đó từng nói, cổ vật là một phần của lịch sử và văn hoá. Nhưng không phải ai cũng nhận thấy rõ giá trị đích thực của nó vì đồ cổ thường là các mảnh vỡ, dị tật, vẻ ngoài xấu xí, xù xì. Ví như, có 2 mảnh khuôn đúc trống đồng được các nhà khảo cổ phát hiện ở Luy Lâu, nhìn vẻ ngoài chẳng khác gì hai cục đất nung nhỏ con, nham nhở nhưng đã có tới 4 nhà khảo cổ đầu ngành của đất nước mang về trao tận tay cho Bảo tàng tỉnh. Bởi đó chính là một báu vật minh chứng thuyết phục rằng Trống Đồng được đúc tại Việt Nam, của Việt Nam và do người Việt Nam đúc ra chứ không phải ở bất cứ một quốc gia nào khác. Những cổ vật thể hiện rõ nhất nét đặc trưng cơ bản của văn hoá vùng Kinh Bắc chính là hơn 150 hiện vật đồ đá tìm thấy ở lòng sông Cầu, đồ gốm Hán tập trung nhiều ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành), bộ sưu tập tiền cổ từ triều Đinh cho đến bây giờ của nhà sưu tầm và nghiên cứu Nguyễn Văn Thạo hay như đồ sứ từ thời phong kiến Trung Quốc cũng được các nhà sưu tập, nghiên cứu tìm thấy nhiều ở Bắc Ninh. Đặc biệt, chiếc chuông đồng ở chùa Ngũ Hộ, xã Kim Chân (TP Bắc Ninh), trước năm 1945 bị đưa sang và lưu lạc tại Nhật Bản, năm 1978, Hội hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam đã tổ chức vận động trao trả lại cho Việt Nam. Qua đó, chứng tỏ cổ vật không chỉ thấm đẫm giá trị lịch sử, văn hoá và mỹ thuật mà còn thể hiện sâu sắc tình hữu nghị ngoại giao hai nước, mang ý nghĩa chính trị cao. Hầu hết cổ vật có nguồn gốc, xuất xứ từ kho lưu trữ của Bảo tàng Bắc Ninh được sưu tầm từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến nay trên địa bàn Bắc Ninh – Kinh Bắc và của các nhà sưu tầm, nghiên cứu cổ vật Kinh Bắc. Ngoài cổ vật của Việt Nam, phòng trưng bày còn có những cổ vật có nguồn gốc từ Trung Hoa, Nhật Bản... trong trường kỳ lịch sử giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã được giữ gìn, bảo tồn đến ngày nay.
Trong số hàng nghìn lượt khách đến bảo tàng tỉnh để tham quan, chiêm ngưỡng cổ vật, một nhiếp ảnh gia người Pháp – ông Jobet đã chia sẻ: Tình cờ biết ở Bắc Ninh có cuộc Trưng bày cổ vật qua một chương trình truyền hình, ngay sau đó tôi đề nghị vợ cùng tìm về đây để tham quan, chiêm ngưỡng. Tôi đặc biệt thích vẻ đẹp cổ kính, rêu phong của các ngôi đình và đền chùa Việt Nam. Còn với cổ vật, vốn tự thân nó đã mang vẻ đẹp hiếm và độc đáo. Đến đây, tôi mong muốn qua các cổ vật tìm hiểu về vẻ đẹp cũng như quan điểm mỹ thuật của người Việt trong quá khứ.
Để tổ chức thành công cuộc trưng bày ý nghĩa này, Bảo tàng tỉnh – đơn vị thường trực được giao phụ trách đã có phương pháp triển khai khá hiệu quả. Vì khi chuẩn bị cho trưng bày, Hội Sưu tầm và nghiên cứu cổ vật chưa thành lập nên công tác vận động các nhà sưu tầm được đặt lên hàng đầu. Ngoài lợi thế về phương tiện trưng bày khá đầy đủ và chuyên nghiệp của Bảo tàng tỉnh, các nhà sưu tầm đều rất nhiệt tình với hoạt động này cũng là thuận lợi để hiện vật tại cuộc trưng bày thêm phong phú. Công tác vận động các nhà sưu tầm tham gia sự kiện này cũng chính là kinh nghiệm để Bảo tàng Bắc Ninh tiếp tục áp dụng trong những lần sau. Cùng với cán bộ Bảo tàng tỉnh, một số người có tiếng trong giới sưu tầm, nghiên cứu cổ vật trong tỉnh đã đến tận nhà các nhà sưu tầm để giám định đồng thời lập hồ sơ khoa học cho cổ vật, một cách phân loại nhằm tránh sự trùng lặp khi trưng bày. Và cũng là một cách để hoá giải điều lo lắng nhất của BTC về sự bảo đảm an toàn cho cổ vật trong quá trình diễn ra cuộc trưng bày. Ban đầu, đây cũng là vấn đề đáng ngại nhất bởi nước ta chưa có bảo hiểm cổ vật, trong khi đó nhiều hiện vật có giá trị kinh tế cao, song với sự nhiệt tình, vô tư của các nhà sưu tầm và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, nhân viên, mọi việc đã diễn ra suôn sẻ với độ an toàn tuyệt đối. Lần đầu tiên tổ chức trưng bày quy mô lớn với nhiều cổ vật có giá trị văn hoá, lịch sử cũng như kinh tế, Bảo tàng tỉnh đã chuẩn bị chu đáo công tác an ninh: Gắn 2 camera quan sát, 2 vòng bảo vệ với lực lượng chuyên nghiệp và cán bộ, nhân viên Bảo tàng trực 24/24 giờ.
5 ngày là thời gian ít so với số lượng và giá trị các cổ vật trong cuộc trưng bày lần này. Những người làm công tác tổ chức cũng bày tỏ sự tiếc nuối khi chưa thực hiện việc quảng bá, tuyên truyền sớm để đông đảo người dân tìm đến. Vì lẽ đó, mặc dù có hàng nghìn lượt người đến xem song vẫn còn rất nhiều người không đến được với cuộc trưng bày. Dẫu vậy, có thể nói, cuộc Trưng bày cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh là dịp để người dân tìm lại quá khứ, hiểu rõ hơn về chiều dài văn hoá lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và vùng Kinh Bắc nói riêng. Đặc biệt, những hiện vật ấy còn cho thấy sự tài hoa, khéo léo cùng với sức sáng tạo phi thường của cha ông xuyên suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc từ văn hoá Đông Sơn, Phùng Nguyên đến nay, để mỗi người dân Bắc Ninh – Kinh Bắc thoả sức tự hào với truyền thống văn hiến của quê hương.
Sân chơi cho người yêu cổ vật
Ông Nguyễn Việt Dũng, 42 tuổi, đường Thiên Đức, Vệ An, thành phố Bắc Ninh
Tôi yêu thích sưu tầm từ nhỏ nhưng phải từ 10 năm nay mới có điều kiện thực hiện niềm đam mê ấy. Công việc chính là kinh doanh nên tôi đi nhiều nơi, do đó thu thập được một số lượng khá lớn cổ vật. Hiện tại tôi sở hữu khoảng 700 hiện vật, trong đó tôi đặc biệt đam mê gốm thời Lý - Trần, nếu tính riêng Thạp hai triều đại này tôi có 10 chiếc lớn, nhỏ. Tôi nghĩ việc ra đời của Hội sưu tầm và nghiên cứu cổ vật Kinh Bắc sẽ giúp những người yêu đồ cổ như tôi có một sân chơi để giao lưu đồng thời có thể học hỏi kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu cổ vật.
Tôi tâm đắc bộ sưu tập tiền từ thời Đinh đến nay
Ông Nguyễn Văn Thạo 44 tuổi, phố Nguyễn Huy Tưởng, Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh
Hồi nhỏ khi còn đi học tích luỹ bút viết các loại, tôi đã nghĩ mình sẽ theo đến cùng niềm đam mê sưu tầm. Giờ đây, sau hơn 10 năm đi khắp nơi và thu thập tất cả những gì tôi nghĩ là cổ, quý, tôi càng củng cố “tình yêu” của mình với cổ vật. Từ Thái Nguyên cho đến Bắc Kạn, Lạng Sơn... tôi đã “lượm lặt” cho mình được hàng trăm cổ vật, trong đó tôi đặc biệt tâm đắc bộ sưu tập tiền đầy đủ các triều đại từ nhà Đinh đến nay. Vì yêu thích cổ vật nên tôi tự tìm tòi trong sách báo và học hỏi các nhà nghiên cứu để hiểu nhiều, hiểu sâu và đánh giá chính xác giá trị của cổ vật.
Chơi đồ cổ là tìm về vẻ đẹp của mỹ thuật quá khứ
Ông Dương Minh Chính, đường Nguyễn Gia Thiều, TP Bắc Ninh.
Đối với tôi, chơi đồ cổ là tìm về vẻ đẹp của mỹ thuật trong quá khứ và sưu tập đồ cổ chính là sưu tập mỹ thuật cổ. Sau 20 năm sưu tầm đủ loại đồ cổ như: đồ đá, đồng, đất nung, sứ, gốm… dần tôi thấy say mê đồ đồng và đồ đá hơn cả bởi nó không những có giá trị lịch sử về thời gian mà còn mang vẻ đẹp hấp dẫn đặc biệt, hiếm và độc đáo. Hiện tôi đang sở hữu hơn 200 hiện vật đồ đá và đó là thế mạnh của tôi. Việc sưu tầm và nghiên cứu của tôi có nhiều thuận lợi vì vợ tôi là một người rất gần gũi, thích đồ cổ và có trình độ chuyên môn về ngành bảo tồn bảo tàng. Việt Nam có một nền văn minh đồ đá cực kỳ rực rỡ nhưng số người thích sưu tầm và nghiên cứu về đồ đá ở nước ta còn hạn chế bởi dòng hiện vật này khó chứng minh được thời gian, niên đại. Vì thế, ấp ủ lớn nhất của tôi là cố gắng làm sao xác định được địa chỉ - nơi phát hiện ra đồ vật, từ đó tôi sẽ tìm hiểu độ phong hóa, bề mặt thời gian và liệt kê đầy đủ lý lịch quá khứ của hiện vật để chứng minh cho mọi người, nhất là các nhà khoa học khảo cổ đầu ngành trong nước đồng thuận, công nhận giá trị các cổ vật mà tôi đang có.
Ai đó từng nói, cổ vật là một phần của lịch sử và văn hoá. Nhưng không phải ai cũng nhận thấy rõ giá trị đích thực của nó vì đồ cổ thường là các mảnh vỡ, dị tật, vẻ ngoài xấu xí, xù xì. Ví như, có 2 mảnh khuôn đúc trống đồng được các nhà khảo cổ phát hiện ở Luy Lâu, nhìn vẻ ngoài chẳng khác gì hai cục đất nung nhỏ con, nham nhở nhưng đã có tới 4 nhà khảo cổ đầu ngành của đất nước mang về trao tận tay cho Bảo tàng tỉnh. Bởi đó chính là một báu vật minh chứng thuyết phục rằng Trống Đồng được đúc tại Việt Nam, của Việt Nam và do người Việt Nam đúc ra chứ không phải ở bất cứ một quốc gia nào khác. Những cổ vật thể hiện rõ nhất nét đặc trưng cơ bản của văn hoá vùng Kinh Bắc chính là hơn 150 hiện vật đồ đá tìm thấy ở lòng sông Cầu, đồ gốm Hán tập trung nhiều ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành), bộ sưu tập tiền cổ từ triều Đinh cho đến bây giờ của nhà sưu tầm và nghiên cứu Nguyễn Văn Thạo hay như đồ sứ từ thời phong kiến Trung Quốc cũng được các nhà sưu tập, nghiên cứu tìm thấy nhiều ở Bắc Ninh. Đặc biệt, chiếc chuông đồng ở chùa Ngũ Hộ, xã Kim Chân (TP Bắc Ninh), trước năm 1945 bị đưa sang và lưu lạc tại Nhật Bản, năm 1978, Hội hữu nghị Nhật Bản - Việt Nam đã tổ chức vận động trao trả lại cho Việt Nam. Qua đó, chứng tỏ cổ vật không chỉ thấm đẫm giá trị lịch sử, văn hoá và mỹ thuật mà còn thể hiện sâu sắc tình hữu nghị ngoại giao hai nước, mang ý nghĩa chính trị cao. Hầu hết cổ vật có nguồn gốc, xuất xứ từ kho lưu trữ của Bảo tàng Bắc Ninh được sưu tầm từ những thập kỷ 60 của thế kỷ XX đến nay trên địa bàn Bắc Ninh – Kinh Bắc và của các nhà sưu tầm, nghiên cứu cổ vật Kinh Bắc. Ngoài cổ vật của Việt Nam, phòng trưng bày còn có những cổ vật có nguồn gốc từ Trung Hoa, Nhật Bản... trong trường kỳ lịch sử giao lưu văn hóa giữa các dân tộc đã được giữ gìn, bảo tồn đến ngày nay.
Trong số hàng nghìn lượt khách đến bảo tàng tỉnh để tham quan, chiêm ngưỡng cổ vật, một nhiếp ảnh gia người Pháp – ông Jobet đã chia sẻ: Tình cờ biết ở Bắc Ninh có cuộc Trưng bày cổ vật qua một chương trình truyền hình, ngay sau đó tôi đề nghị vợ cùng tìm về đây để tham quan, chiêm ngưỡng. Tôi đặc biệt thích vẻ đẹp cổ kính, rêu phong của các ngôi đình và đền chùa Việt Nam. Còn với cổ vật, vốn tự thân nó đã mang vẻ đẹp hiếm và độc đáo. Đến đây, tôi mong muốn qua các cổ vật tìm hiểu về vẻ đẹp cũng như quan điểm mỹ thuật của người Việt trong quá khứ.
Bộ sưu tập Lọ Đầm xoè bằng đồng, thế kỷ I-III.
Để tổ chức thành công cuộc trưng bày ý nghĩa này, Bảo tàng tỉnh – đơn vị thường trực được giao phụ trách đã có phương pháp triển khai khá hiệu quả. Vì khi chuẩn bị cho trưng bày, Hội Sưu tầm và nghiên cứu cổ vật chưa thành lập nên công tác vận động các nhà sưu tầm được đặt lên hàng đầu. Ngoài lợi thế về phương tiện trưng bày khá đầy đủ và chuyên nghiệp của Bảo tàng tỉnh, các nhà sưu tầm đều rất nhiệt tình với hoạt động này cũng là thuận lợi để hiện vật tại cuộc trưng bày thêm phong phú. Công tác vận động các nhà sưu tầm tham gia sự kiện này cũng chính là kinh nghiệm để Bảo tàng Bắc Ninh tiếp tục áp dụng trong những lần sau. Cùng với cán bộ Bảo tàng tỉnh, một số người có tiếng trong giới sưu tầm, nghiên cứu cổ vật trong tỉnh đã đến tận nhà các nhà sưu tầm để giám định đồng thời lập hồ sơ khoa học cho cổ vật, một cách phân loại nhằm tránh sự trùng lặp khi trưng bày. Và cũng là một cách để hoá giải điều lo lắng nhất của BTC về sự bảo đảm an toàn cho cổ vật trong quá trình diễn ra cuộc trưng bày. Ban đầu, đây cũng là vấn đề đáng ngại nhất bởi nước ta chưa có bảo hiểm cổ vật, trong khi đó nhiều hiện vật có giá trị kinh tế cao, song với sự nhiệt tình, vô tư của các nhà sưu tầm và tinh thần trách nhiệm cao của đội ngũ cán bộ, nhân viên, mọi việc đã diễn ra suôn sẻ với độ an toàn tuyệt đối. Lần đầu tiên tổ chức trưng bày quy mô lớn với nhiều cổ vật có giá trị văn hoá, lịch sử cũng như kinh tế, Bảo tàng tỉnh đã chuẩn bị chu đáo công tác an ninh: Gắn 2 camera quan sát, 2 vòng bảo vệ với lực lượng chuyên nghiệp và cán bộ, nhân viên Bảo tàng trực 24/24 giờ.
5 ngày là thời gian ít so với số lượng và giá trị các cổ vật trong cuộc trưng bày lần này. Những người làm công tác tổ chức cũng bày tỏ sự tiếc nuối khi chưa thực hiện việc quảng bá, tuyên truyền sớm để đông đảo người dân tìm đến. Vì lẽ đó, mặc dù có hàng nghìn lượt người đến xem song vẫn còn rất nhiều người không đến được với cuộc trưng bày. Dẫu vậy, có thể nói, cuộc Trưng bày cổ vật tiêu biểu tỉnh Bắc Ninh là dịp để người dân tìm lại quá khứ, hiểu rõ hơn về chiều dài văn hoá lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và vùng Kinh Bắc nói riêng. Đặc biệt, những hiện vật ấy còn cho thấy sự tài hoa, khéo léo cùng với sức sáng tạo phi thường của cha ông xuyên suốt chiều dài lịch sử mấy nghìn năm của dân tộc từ văn hoá Đông Sơn, Phùng Nguyên đến nay, để mỗi người dân Bắc Ninh – Kinh Bắc thoả sức tự hào với truyền thống văn hiến của quê hương.
Sân chơi cho người yêu cổ vật
Ông Nguyễn Việt Dũng, 42 tuổi, đường Thiên Đức, Vệ An, thành phố Bắc Ninh
Tôi yêu thích sưu tầm từ nhỏ nhưng phải từ 10 năm nay mới có điều kiện thực hiện niềm đam mê ấy. Công việc chính là kinh doanh nên tôi đi nhiều nơi, do đó thu thập được một số lượng khá lớn cổ vật. Hiện tại tôi sở hữu khoảng 700 hiện vật, trong đó tôi đặc biệt đam mê gốm thời Lý - Trần, nếu tính riêng Thạp hai triều đại này tôi có 10 chiếc lớn, nhỏ. Tôi nghĩ việc ra đời của Hội sưu tầm và nghiên cứu cổ vật Kinh Bắc sẽ giúp những người yêu đồ cổ như tôi có một sân chơi để giao lưu đồng thời có thể học hỏi kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu cổ vật.
Tôi tâm đắc bộ sưu tập tiền từ thời Đinh đến nay
Ông Nguyễn Văn Thạo 44 tuổi, phố Nguyễn Huy Tưởng, Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh
Hồi nhỏ khi còn đi học tích luỹ bút viết các loại, tôi đã nghĩ mình sẽ theo đến cùng niềm đam mê sưu tầm. Giờ đây, sau hơn 10 năm đi khắp nơi và thu thập tất cả những gì tôi nghĩ là cổ, quý, tôi càng củng cố “tình yêu” của mình với cổ vật. Từ Thái Nguyên cho đến Bắc Kạn, Lạng Sơn... tôi đã “lượm lặt” cho mình được hàng trăm cổ vật, trong đó tôi đặc biệt tâm đắc bộ sưu tập tiền đầy đủ các triều đại từ nhà Đinh đến nay. Vì yêu thích cổ vật nên tôi tự tìm tòi trong sách báo và học hỏi các nhà nghiên cứu để hiểu nhiều, hiểu sâu và đánh giá chính xác giá trị của cổ vật.
Chơi đồ cổ là tìm về vẻ đẹp của mỹ thuật quá khứ
Ông Dương Minh Chính, đường Nguyễn Gia Thiều, TP Bắc Ninh.
Đối với tôi, chơi đồ cổ là tìm về vẻ đẹp của mỹ thuật trong quá khứ và sưu tập đồ cổ chính là sưu tập mỹ thuật cổ. Sau 20 năm sưu tầm đủ loại đồ cổ như: đồ đá, đồng, đất nung, sứ, gốm… dần tôi thấy say mê đồ đồng và đồ đá hơn cả bởi nó không những có giá trị lịch sử về thời gian mà còn mang vẻ đẹp hấp dẫn đặc biệt, hiếm và độc đáo. Hiện tôi đang sở hữu hơn 200 hiện vật đồ đá và đó là thế mạnh của tôi. Việc sưu tầm và nghiên cứu của tôi có nhiều thuận lợi vì vợ tôi là một người rất gần gũi, thích đồ cổ và có trình độ chuyên môn về ngành bảo tồn bảo tàng. Việt Nam có một nền văn minh đồ đá cực kỳ rực rỡ nhưng số người thích sưu tầm và nghiên cứu về đồ đá ở nước ta còn hạn chế bởi dòng hiện vật này khó chứng minh được thời gian, niên đại. Vì thế, ấp ủ lớn nhất của tôi là cố gắng làm sao xác định được địa chỉ - nơi phát hiện ra đồ vật, từ đó tôi sẽ tìm hiểu độ phong hóa, bề mặt thời gian và liệt kê đầy đủ lý lịch quá khứ của hiện vật để chứng minh cho mọi người, nhất là các nhà khoa học khảo cổ đầu ngành trong nước đồng thuận, công nhận giá trị các cổ vật mà tôi đang có.
Tuesday, November 5, 2013
Đôi Bờ Ngũ Huyện Khê (Hà Bắc) - Trần Quốc Vượng
Bắc Ninh cũ, xứ Kinh Bắc xưa, là cả một kho tàng di tích khảo cổ, di tích lịch sử, huyền tích, huyền thoại, thần thoại tố, những hội hè xuân - thu, những phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ thức cổ truyền, những câu nói văn vẻ, những lời ca, điệu hát, những tên đất, tên làng cổ kính… hứa hẹn những vụ gặt bội thu của nhiều ngành nghiên cứu đất nước, con người, xã hội Việt Nam nói chung, xứ Bắc nói riêng, mà gần 2 tháng công tác ở Yên Phong, Tiêu Sơn, Quế Võ, 2 đoàn khảo cổ học và dân tộc học Khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, với sự giúp đỡ và phối hợp đầy tình thân ái của Ty Văn hóa Hà Bắc cùng một số cán bộ Tổ Văn học dân gian Viện Văn học, đã khơi ra ngồn ngộn vấn đề…
Trong thông báo ngắn này, chúng tôi không thể nói hết những gì chúng tôi - cán bộ, sinh viên của mấy cơ quan nói trên, cùng làm, cùng theo dõi, cùng phát hiện theo cùng một phương pháp liên ngành. Hãy đợi dịp khác, hãy hẹn nhau ở Hội nghị học thuật sắp tới do Hà Bắc chủ trì.
Ở đây chúng tôi chỉ có thể nói về một tuyến đường, một lộ trình khoa học mà anh em Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội cùng anh em Ty Văn hóa Hà Bắc sẽ còn trở đi trở lại trong năm tới và mấy năm sau này nữa: Hành trình đi sâu vào quá khứ xứ Bắc dọc đôi bờ Ngũ Huyện Khê.
Nước non xứ Bắc có sức hấp dẫn lạ lùng! Miền Thiên Thai ấy, quê hương ông Trạng khai khoa đất Việt Lê Văn Thịnh - Trạng Cú theo tên gọi dân gian - đất đai bộ Vũ Ninh thời cổ, Gia Lương ngày nay, là cả một bí mật mới bắt đầu khám phá. Một khu di chỉ Lãng Ngâm chắc chắn thuộc văn hóa Đông Sơn, với một khu mộ địa đầy ắp đồ đồng ở chân núi Cả thuộc dãy núi Đông Cứu, đan xen đầy mộ gạch cổ Đông Hán - Lục Triều, khoét sâu vào lòng núi, một khu cư trú Vườn Chiều trải rộng hàng vạn mét vuông trong dải đất phù sa trên bãi trong đê sông Đuống ken dày đặc "gốm Đường Cồ", "Gò Mun muộn" và kha khá gốm lạ, có thể là Chiến Quốc… Gần đó, cũng trong phạm vi Gia Lương, là khu mộ hình thuyền. Bên cạnh thành của Chiêu Nương, một nữ tướng của hai Bà Trưng mới phát hiện, còn hứa hẹn lắm điều hay. Quanh núi, trong đồng là rất nhiều đền đài nam nữ tướng trong phong trào hai Bà Trưng với địa danh Lãng Ngâm, Phá Lãng, Phù Lãng, Tân Lãng, Lãng Khê, Lãng Sơn, Vân Lãng… khiến Lê Quý Đôn ngày trước ngờ ngợ rằng đó là vùng Lãng Bạc của buổi đầu Công Nguyên.
Có một thành Dền và một làng Dền tại Quế Võ bên đường 18, nơi ấy nhiều "mộ Hán"; có thành Dền ở kề Đông Cứu (Gia Lương); có một thành Dền và bến Dền ở Thụ Tiền, xã Cảnh Hưng, bờ sông Đuống, từ núi Phật Tích (Tiên Sơn) nhìn ra, có một làng Dền ở bờ sông Thương, có 1 làng Diềm (Viêm Xá) ở cạnh Quả Cảm sát thị xã Bắc Giang; Lũng Triều và thành Luy Lâu ở Thuận Thành… Và Trung Màu (Tiên Du cũ) nay thuộc Gia Lâm cũng có thành Dền, gần đó có làng Viềng (Tiên Viềng) của Từ Sơn. Cộng với thành Dền ở Yên Lãng cả Gò Chiền ở Lâm Thao (Vĩnh Phúc), Gò Chiền Vậy ở Hoài Đức, Thành Dền ở Quốc Oai, di chỉ Gò Đồng Dền Hoa Lư (Ninh Bình), cầu Dền Thăng Long cổ (Hà Nội)… Những địa danh ấy nói gì?
Toàn những nơi trồng rau dền theo lối minh giải của từ nguyên học dân gian? Hay Dền, Chiền, Triều, Viềng… đều là "đồng âm dị dịch" của một từ gốc Tày - Thái cổ, như Chiềng của Mường - Thái ngay gần đây, là khu vực trung tâm, nơi ở của thủ lĩnh Việt, của lang cun Mường, hay phìa tạo Thái, có một công trình phòng vệ, một cái thành nào đó…? Nhà khảo cổ học lưu ý rằng: nơi nào mang địa danh ấy là một di tích khảo cổ quan trọng: một di chỉ đồ đồng - sắt lớn, một cái thành cổ…
Nhưng ta hãy trở lại với Tiên Viềng! Qua thị trấn Từ Sơn 2km thì đến Viềng (Vĩnh Kiều), nằm chạy dài, thẳng gốc với quốc lộ 1 như là một dải lũy thành. Rẽ bên trái ta đi dọc theo bờ sông Tiêu Tương cũ của câu truyện Trương Chi, nay chỉ còn là những dải ao hồ hay những dọc ruộng sâu.
Trên cánh đồng Bãi Tự và cánh đồng Cửa Phủ là khu Lò Gạch. Ở đó, chúng tôi tìm thấy một di tích khảo cổ quan trọng. Tầng văn hóa xuất lộ, ken dày đặc vô vàn là mảnh tước, quy mô khác nhau, to, nhỏ, vừa, tí xíu như vảy cá rô don. Những mảnh đá có dấu ép dấu cưa, những mảnh vòng, mảnh rìu phế phẩm. Đã thấy được ít nhất 3 loại đá, kết cấu hạt đều rất mịn, màu trắng xám (quắc zít), đỏ (như mã não) và vàng.
Chắc chắn là một công xưởng chế tác đồ đá quan trọng của vùng đồng bằng xứ Bắc. Đá và kỹ thuật chế tác gợi nhiều đến Tràng Kênh. Gốm, có ít, đều là gốm thô, hoa văn giống Phùng Nguyên. Năm tới đây Tổ khảo cổ học Trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội sẽ xin phép khai quật đợt 1 công xưởng này. Kết quả chắc là lý thú.
Đó là xã Trương Giang, cách Hà Nội 20km, với 5 làng Tiêu: Tiêu Thượng, Tiêu Long, Tiêu Rút, Tiêu Sơn và Tiêu Tề - nằm rải dưới chân Tiêu Sơn và bên bờ Tiêu Tương. Tòa cổ sái trên núi đã tiêu điều, không còn gì là cổ kính, Một tấm bia duy nhất ghi việc cúng ruộng cho chùa thời Bảo Đại, chùa Tràng Liêu (chùa Lào) thời Lý dưới chân núi. Trong làng Tiêu Thượng, nơi tu hành của sư Vạn Hạnh thời Lý, nơi mẹ Lý Công Uẩn hoài thai, chỉ còn lại cái nền.
Trước cửa chùa Tiêu Sơn, phía chân núi, phát hiện một di chỉ kiểu Đường Cồ, tầng văn hóa mỏng, gốm ít. Cũng ở Tiêu Sơn, còn di tích một tòa thành, lũy đất đắp còn lại từng đoạn, lấy Tiêu Tương làm hào. Ở đó có mộ Hán, có gốm văn in, sứ Lý. Có "Bãi Luyện Quân", "Cửa Phủ", "Cửa Đông", nhiều gò cao mang tên Mả Thiu, Mả Viềng, và Mả Mái - mả Lý A Nương, mẹ Lý Súy, chủ nhân của thành theo thần phả, một vị tướng thời Lý, có tham gia đàn áp cuộc khởi nghĩa Thân Lợi năm 1140…
Quả Cảm - Kẻ Cởm của dân gian - trên cửa Ngũ Huyện Khê đổ ra sông Cầu. Một khu di chỉ và mộ táng lớn kiểu Đường Cồ đã được Viện Khảo cổ học và Ty Văn hóa Hà Bắc đào thăm dò. Di chỉ thường xuyên bị phá hoại nghiêm trọng để làm đường.
Rìa đồi Quả Cảm, rất nhiều mộ Hán cổ, quy mô khá lớn. Và rất nhiều gốm cổ Thổ Hà: theo lời truyền miệng của nhân dân, trước khi chuyển lò và làng sang đất Thổ Hà ngày nay, những người thợ gốm cổ đầu tiên đã định cư tại vùng đồi Quả Cảm.
Bờ bên phải Ngũ Huyện Khê, cạnh đồi Quả Cảm là thôn Lẫm (xã Vạn An), thôn của bà chúa Lẫm, theo lời truyền miệng của nhân dân, lấy vua Lý, để kho ở đó và cắt nhiều tù binh Chàm giữ kho (lẫm). Phải chăng đó là Lẫm Cảng được ghi trong Đại Việt sử lược? Khu vực này xưa thuộc huyện Võ Giàng. Tại thôn Lẫm, có rất nhiều nhà họ Tống - họ lớn, và cho đến nay, cha truyền con nối, vẫn tự nhận là gốc từ Chiêm Thành như ghi chép của An Nam chí lược? Nhạc Chàm có ảnh hưởng gì đến dân ca Quan họ? Dọc đôi bờ Ngũ Huyện Khê, có thể kể ít nhất cũng 7 làng có truyền thống quan họ.
Cũng trên cửa sông Ngũ Huyện, cạnh Quả Cảm là làng Diềm (Viêm Xá), một làng quan họ, có đền vua Bà, nơi diễn ra các tối quan họ và chơi vật cầu để cầu mưa. Đền có trụ đá thề. Ở trung lưu Ngũ Huyện Khê, đến Mỵ Châu cũng thờ đá - tượng. Cho đến gần đây, tục thờ "ông Đống", "ông Lúi" - những đống đá, gạch ngày càng chất cao và đốt hương bởi người qua lại - còn khá đậm nét.
Phải chăng đất Việt cổ khi trước có tục thờ đá? Và cũng có một dư ba nào đó của nền văn hóa, văn minh cự thạch? Hình như ngày càng có nhiều minh chứng cho giả thuyết đó. Bờ bên phải Ngũ Huyện Khê, giữa Ngũ Huyện Khê và sông Cầu là di chỉ Nội Gầm, với đồ gốm và đồ đồng Gò Mun muộn và Đường Cồ. Ngay bờ bên phải sông Ngũ Huyện, trên đất Chi Long, chúng tôi phát hiện một di chỉ khảo cổ, di chỉ Chi Long, kiểu Đường Cồ, không có gò mà ở ngay trong làng, làng nhỏ, 2 xóm, với 12 mẫu vườn, nằm giữa vùng đồng bằng chiêm trũng Yên Phong.
Ở đó cũng có di tích tòa thành cổ, đã bị san bằng gần hết, có mộ Hán và gốm văn in, và 2 rìu đá mài nhỏ, đẹp. Đê Chằng Cày mới đắp thời Lê Vĩnh Tộ (thế kỷ thứ 17), và 4 huyện hạ lưu Ngũ Huyện từ đó mới được mùa luôn.
Cùng với di chỉ Đường Cồ của Phú Xuyên giáp vùng ô trũng Hà Nam - Ninh Bình, di chỉ Nội Gầm và Chi Long chứng minh rằng vùng đồng chiêm trũng lưu vực sông Hồng đã được khai phá từ cuối thời đại đồng đầu thời đại sắt, hơn 2000 năm có lẻ.
Và cuối cùng, nổi lên một sự thật, có thể coi là một kinh nghiệm, công tác điền dã khảo cổ học Việt Nam: ở bất cứ nơi nào có di chỉ đồng thau - sắt sớm Việt Nam, chúng tôi cũng thấy có mộ Hán cổ hay di chỉ thời Hán cổ. Và ngược lại.
Phải chăng, đều đó phản ánh 1 sự thật lịch sử, cũng đã được khảo nghiệm ở vùng Điền Trì (Vân Nam): các trung tâm trấn lị, đô hộ của nhà Hán đều nhờ cắm vào vùng kinh tế đã phát đạt của người bản địa Việt cổ, vùng cư dân đã tập trung đông đúc?
Kết thúc bản thông báo ngắn này, là một thú nhận chưa thành công. Điều tra khảo cổ đôi bờ Ngũ Huyện Khê, chúng tôi có ý định dò tìm dấu vết xưa của thành cổ Long Biên, theo Thủy kinh chú và các thư tịch khác là thuộc vùng này. Nhưng chúng tôi chưa tìm thấy. Và do đó, chúng tôi còn tiếp tục thăm tìm trong năm tới…
Nguồn: Tạp chí Khảo cổ học, số 16/1974, tr.90-92
Bốn xứ Đông - Đoài - Nam - Bắc của đại vùng văn hóa đồng bằng Bắc bộ - Lê Văn Hảo
......
Vùng văn hóa xứ Bắc, nơi hội tụ hài hòa của vua chúa, tôn giáo và văn nghệ dân gian
Xứ Bắc, vùng đất của trấn Kinh Bắc xưa, của hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang nay, là một vùng văn hóa nổi tiếng của tổ quốc, nơi ghi dấu Kinh Dương Vương (lăng mộ còn tại A Lữ, Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), Lạc Long Quân (đền thờ còn tại Bình Ngô, An Binh, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), và Âu Cơ (miếu thờ còn tại A Lữ); cũng là nơi phát tích của triều Lý (thôn Cổ Pháp, huyện Từ Sơn): "thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp".
Xứ Bắc có Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam quan trọng ở miền Đông Á vào đầu công nguyên thời Bắc thuộc, tương đương với hai trung tâm lớn của Phật giáo Trung Hoa cùng thời là Lạc Dương và Bình Thành.
Xứ Bắc là nơi còn lưu giữ những ngôi chùa, ngôi đình có giá trị lịch sử và nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam: chùa Dâu, Long Hàm, Lục Tổ, Phật Tích, Đức La, Tam Sơn, Vĩnh Nghiêm... ; đình Lỗ Hạnh, Thổ Hà, Phù Lưu, Phù Lão, Đình Diềm, Đình Bảng...
Xứ Bắc có nhiều làng nghề nổi tiếng: Dệt tơ lụa và nhuộm (Đình Bảng), gốm, sành, sứ (Thổ Hà và Bát Tràng), đồ thêu (thị xã Bắc Ninh) cùng những đặc sản: giò chả Từ Sơn, cam Bố Hạ, cát sâm Yên Thế...
Xứ Bắc cũng là nơi đã sáng tạo ra những đỉnh cao của văn nghệ dân gian: Truyền thống ăn ngon, mặc đẹp "ăn Bắc, mặc Kinh", tranh Đông Hồ, hát Quan Họ, hội Lim... cũng là nơi nổi tiếng về truyền thống thượng võ và hiếu học. Đây là quê hương của người anh hùng làng Dóng:
"Trừ giặc còn hiềm ba tuổi đời là muộn
Cưỡi mây vẫn giận chín tầng trời chửa cao"
(Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn
Đằng vân do hận cửu thiên đê)
Cao Bá Quát
Xứ Bắc cũng là xứ sở của rất nhiều ông nghè, ông cống, tiến sĩ, trạng nguyên: "Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè ông trạng" hay "một bồ tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn"...
Nói đến vùng văn hóa xứ Bắc phải nhắc đến hai đỉnh cao của nó: hát Quan Họ và hội Lim.
Xuất xứ Kinh Bắc, có lẽ hát Quan Họ đã xuất hiện từ thời Lý thế kỷ 11 và những nghệ nhân dân gian già trẻ của 49 làng quan họ Bắc Ninh xưa nay làm chúng ta kinh ngạc và thán phục vì những canh hát thâu đêm của họ trong hội làng, trước cửa chùa, trên sườn đồi, trên mặt hồ.
Liền anh quan họ mang ô lục soạn, quấn khăn nhiễu tam giang, áo lương, quần trắng; liền chị quan họ có nón quai thao, khăn mỏ quạ, áo mớ ba, khuyên vàng, xà tích. Trong canh hát thâu đêm suốt sáng, gái trai quan họ mời chào nhau, tâm tình với nhau bằng lời thơ tiếng hát. Họ hát đôi (đôi nữ, đôi nam) và hát đối (đối lời, đối giọng). Những đội hát gồm nhiều cặp quan họ gái và trai được đào tạo theo kiểu truyền nghề từ thế hệ già đến thế hệ trẻ. Khi "thành đôi" rồi ít khi "xé cặp". Hát đôi được phân công người hát chính và người hát luồn. Quan họ có tới hai trăm làn điệu khác nhau (Trần Linh Quý và Hồng Thao, Tìm hiểu dân ca quan họ, Hà Nội, 1997).
Hát đối quan họ còn gọi là " nam tòng nữ", là trò chơi ca nhạc cao siêu, nhất là khi thi hát. Hát quan họ luôn luôn đối giọng và đối lời. Liền chị hát bài "Mười thương" thì liền anh trả lời bằng bài "Mười nhớ", nhưng phải đúng giai điệu đó.
Làn điệu quan họ đặc sắc nhất có lẽ là bài "Giã bạn":
Người ơi, người ở đừng về
Người về em những khóc thầm
Bên song vạt áo ướt đầm như mưa
Người về em đứng trông theo
Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi
Người về em dặn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Người về em dặn lời rằng
Đâu hơn người lấy đâu bằng đợi em...
Đỉnh cao của nghệ thuật và văn hóa quan họ là hội Lim, diễn ra tại xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, ngày và suốt đêm 13 tháng Giêng.
Hát ngoài đồi: Trong ngày hội Lim các liền anh liền chị đi chơi thành từng nhóm nhỏ, bên nam chưa có bạn thì tìm bên nữ mời họ xơi trầu, nếu nữ thuận nhận trầu tức là nhận lời hát cùng với nam; cũng có khi nữ chủ động mời nam xơi trầu trước. Trong khi hát với nhau, nếu thấy ăn ý về giọng hát và cách đối xử thì hẹn nhau đến một ngày nào đó gặp lại xin kết nghĩa (kết bạn quan họ) với nhau cho đến trọn đời.
Hát trong nhà: Quan họ khách được hẹn mời từ trước, buổi sáng đến thẳng hội. Quan họ bạn đến cổng làng Lim là hát mừng làng đầu năm mới, mừng nhà, mừng bạn. Quan họ chủ đứng ở sân hát đón khách và hát chúc mừng lại, đưa khách vào nhà, cất nón, cất ô rồi ngồi xuống giường ở hai gian bên cạnh, hoặc hai bên tràng kỷ đối diện nhau mà hát. Không nói bằng lời, tất cả diễn ra hoàn toàn bằng lời thơ, tiếng hát.
Hát trên thuyền: Gái trai bơi thuyền trên ao hồ hay trên sông Làng Bịu (bên cạnh làng Lim) mà hát đối đáp.
Hội Lim là hội giao duyên thi tài của gái lịch trai thanh. Điều thú vị là theo phong tục sở tại, gái trai quan họ đã kết nghĩa với nhau thì không lấy nhau, nhưng gái có chồng và trai có vợ vẫn có thể kết nghĩa và hát với nhau trọn đời, không hề có chuyện ghen tuông, mặc dầu những bài hát quan họ chứa đầy chất thơ lãng mạn của tâm hồn. Họ như là những diễn viên trên một sân khấu tình yêu lý tưởng, hát xong ai về nhà nấy để mà thương mà nhớ. Thực là một phong tục văn nghệ, một văn hóa tình cảm ít thấy trên quả đất này.
(Sưu tầm)
Nguồn: Diễn Đàn Kiến Thức
Vùng văn hóa xứ Bắc, nơi hội tụ hài hòa của vua chúa, tôn giáo và văn nghệ dân gian
Xứ Bắc, vùng đất của trấn Kinh Bắc xưa, của hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang nay, là một vùng văn hóa nổi tiếng của tổ quốc, nơi ghi dấu Kinh Dương Vương (lăng mộ còn tại A Lữ, Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), Lạc Long Quân (đền thờ còn tại Bình Ngô, An Binh, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh), và Âu Cơ (miếu thờ còn tại A Lữ); cũng là nơi phát tích của triều Lý (thôn Cổ Pháp, huyện Từ Sơn): "thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Cổ Pháp".
Xứ Bắc có Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam quan trọng ở miền Đông Á vào đầu công nguyên thời Bắc thuộc, tương đương với hai trung tâm lớn của Phật giáo Trung Hoa cùng thời là Lạc Dương và Bình Thành.
Xứ Bắc là nơi còn lưu giữ những ngôi chùa, ngôi đình có giá trị lịch sử và nghệ thuật quan trọng nhất của Việt Nam: chùa Dâu, Long Hàm, Lục Tổ, Phật Tích, Đức La, Tam Sơn, Vĩnh Nghiêm... ; đình Lỗ Hạnh, Thổ Hà, Phù Lưu, Phù Lão, Đình Diềm, Đình Bảng...
Xứ Bắc có nhiều làng nghề nổi tiếng: Dệt tơ lụa và nhuộm (Đình Bảng), gốm, sành, sứ (Thổ Hà và Bát Tràng), đồ thêu (thị xã Bắc Ninh) cùng những đặc sản: giò chả Từ Sơn, cam Bố Hạ, cát sâm Yên Thế...
Xứ Bắc cũng là nơi đã sáng tạo ra những đỉnh cao của văn nghệ dân gian: Truyền thống ăn ngon, mặc đẹp "ăn Bắc, mặc Kinh", tranh Đông Hồ, hát Quan Họ, hội Lim... cũng là nơi nổi tiếng về truyền thống thượng võ và hiếu học. Đây là quê hương của người anh hùng làng Dóng:
"Trừ giặc còn hiềm ba tuổi đời là muộn
Cưỡi mây vẫn giận chín tầng trời chửa cao"
(Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn
Đằng vân do hận cửu thiên đê)
Cao Bá Quát
Xứ Bắc cũng là xứ sở của rất nhiều ông nghè, ông cống, tiến sĩ, trạng nguyên: "Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cống, một đống ông nghè, một bè ông trạng" hay "một bồ tiến sĩ, một bị trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn"...
Nói đến vùng văn hóa xứ Bắc phải nhắc đến hai đỉnh cao của nó: hát Quan Họ và hội Lim.
Xuất xứ Kinh Bắc, có lẽ hát Quan Họ đã xuất hiện từ thời Lý thế kỷ 11 và những nghệ nhân dân gian già trẻ của 49 làng quan họ Bắc Ninh xưa nay làm chúng ta kinh ngạc và thán phục vì những canh hát thâu đêm của họ trong hội làng, trước cửa chùa, trên sườn đồi, trên mặt hồ.
Liền anh quan họ mang ô lục soạn, quấn khăn nhiễu tam giang, áo lương, quần trắng; liền chị quan họ có nón quai thao, khăn mỏ quạ, áo mớ ba, khuyên vàng, xà tích. Trong canh hát thâu đêm suốt sáng, gái trai quan họ mời chào nhau, tâm tình với nhau bằng lời thơ tiếng hát. Họ hát đôi (đôi nữ, đôi nam) và hát đối (đối lời, đối giọng). Những đội hát gồm nhiều cặp quan họ gái và trai được đào tạo theo kiểu truyền nghề từ thế hệ già đến thế hệ trẻ. Khi "thành đôi" rồi ít khi "xé cặp". Hát đôi được phân công người hát chính và người hát luồn. Quan họ có tới hai trăm làn điệu khác nhau (Trần Linh Quý và Hồng Thao, Tìm hiểu dân ca quan họ, Hà Nội, 1997).
Hát đối quan họ còn gọi là " nam tòng nữ", là trò chơi ca nhạc cao siêu, nhất là khi thi hát. Hát quan họ luôn luôn đối giọng và đối lời. Liền chị hát bài "Mười thương" thì liền anh trả lời bằng bài "Mười nhớ", nhưng phải đúng giai điệu đó.
Làn điệu quan họ đặc sắc nhất có lẽ là bài "Giã bạn":
Người ơi, người ở đừng về
Người về em những khóc thầm
Bên song vạt áo ướt đầm như mưa
Người về em đứng trông theo
Trông nước nước chảy trông bèo bèo trôi
Người về em dặn tái hồi
Yêu em xin chớ đứng ngồi với ai
Người về em dặn lời rằng
Đâu hơn người lấy đâu bằng đợi em...
Đỉnh cao của nghệ thuật và văn hóa quan họ là hội Lim, diễn ra tại xã Lũng Giang, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, ngày và suốt đêm 13 tháng Giêng.
Hát ngoài đồi: Trong ngày hội Lim các liền anh liền chị đi chơi thành từng nhóm nhỏ, bên nam chưa có bạn thì tìm bên nữ mời họ xơi trầu, nếu nữ thuận nhận trầu tức là nhận lời hát cùng với nam; cũng có khi nữ chủ động mời nam xơi trầu trước. Trong khi hát với nhau, nếu thấy ăn ý về giọng hát và cách đối xử thì hẹn nhau đến một ngày nào đó gặp lại xin kết nghĩa (kết bạn quan họ) với nhau cho đến trọn đời.
Hát trong nhà: Quan họ khách được hẹn mời từ trước, buổi sáng đến thẳng hội. Quan họ bạn đến cổng làng Lim là hát mừng làng đầu năm mới, mừng nhà, mừng bạn. Quan họ chủ đứng ở sân hát đón khách và hát chúc mừng lại, đưa khách vào nhà, cất nón, cất ô rồi ngồi xuống giường ở hai gian bên cạnh, hoặc hai bên tràng kỷ đối diện nhau mà hát. Không nói bằng lời, tất cả diễn ra hoàn toàn bằng lời thơ, tiếng hát.
Hát trên thuyền: Gái trai bơi thuyền trên ao hồ hay trên sông Làng Bịu (bên cạnh làng Lim) mà hát đối đáp.
Hội Lim là hội giao duyên thi tài của gái lịch trai thanh. Điều thú vị là theo phong tục sở tại, gái trai quan họ đã kết nghĩa với nhau thì không lấy nhau, nhưng gái có chồng và trai có vợ vẫn có thể kết nghĩa và hát với nhau trọn đời, không hề có chuyện ghen tuông, mặc dầu những bài hát quan họ chứa đầy chất thơ lãng mạn của tâm hồn. Họ như là những diễn viên trên một sân khấu tình yêu lý tưởng, hát xong ai về nhà nấy để mà thương mà nhớ. Thực là một phong tục văn nghệ, một văn hóa tình cảm ít thấy trên quả đất này.
(Sưu tầm)
Nguồn: Diễn Đàn Kiến Thức




