Thursday, May 21, 2015

Từ Bốn Phương Trời - Trường dạy tiếng Việt ở Canada



Từ Bốn Phương Trời
Published on Jan 20, 2015
 
Đối với cộng đồng người Việt ở nước ngoài thì tiếng Việt là cội nguồn, là quê hương, là phương tiên để lưu giữ văn hóa truyền thống của dân tộc. Vì vậy, mối quan tâm hàng đầu của các bậc phụ huynh xa quê chính là việc làm sao để cho con cháu mình học và hiểu được tiếng Việt, văn hóa truyền thống của quê hương mình.

Tuesday, May 12, 2015

Từ bốn phương trời - Chợ chồm hổm tại Mỹ



Từ Bốn Phương Trời
Published on Jul 7, 2014
 
Những phiên chợ Việt luôn nằm trong trái tim những người con Việt xa xứ. Có lẽ vậy mà ngay tại Mỹ, ở những nơi có nhiều người con Việt, một ngôi chợ quê đã được hình thành và được nhiều người biết đến.

Monday, May 11, 2015

Nơi gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống

Thứ Tư, 24/12/2014 - 10:24
 
Nơi gìn giữ nét đẹp văn hóa truyền thống
 
Lễ hội gắn liền với mỗi làng quê-làng quê là cái nôi hình thành, bảo tồn, sản sinh văn hoá truyền thống của dân tộc. Trong lũy tre làng bình dị ấy, ngôi đình, mái chùa, đền, miếu, mỗi dòng sông, bến nước... và các lễ hội chính là tâm điểm của cái nôi văn hoá.
 
Lễ hội không phải là 2 phần tách biệt mà là một thể thống nhất xuyên suốt tôn vinh, ca ngợi công đức tiền nhân và việc tổ chức lễ hội hàng năm sẽ góp phần bảo tồn di sản văn hóa, lịch sử. Trong lễ hội, phần lễ là gốc rễ, chủ đạo. Ngôn ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hiện hữu hàng ngày. Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn ra trong lễ hội, như đua thuyền, đấu vật, kéo co... thậm chí các trò chơi mang tính phồn thực vẫn đậm chất nghi lễ, phong tục, trở thành “cái tục” của thế giới thiêng liêng.
Về Bắc Ninh vào mùa xuân, ta lại được đến Hội đền Vua Bà (tức hội làng Diềm) là lễ hội truyền thống ở làng Quan họ gốc, nơi duy nhất thờ Đức Vua Bà trong số 49 làng Quan họ của tỉnh. Lễ hội được tổ chức hàng năm nhằm thể hiện sự tôn kính và lòng nhớ ơn của dân làng đối với Đức Vua Bà-Thủy tổ Quan họ, người có công sáng tạo những làn điệu dân ca Quan họ.
Hình ảnh Vua Bà là kết tinh sáng tạo tuyệt vời, trí tưởng tượng kỳ vĩ, huyền diệu trong đời sống văn hóa nghệ thuật tâm linh, tín ngưỡng của người quan họ, để lại những giá trị văn hóa tinh thần quý giá cho con cháu muôn đời… Lễ hội cổ truyền chứa đựng nhiều giá trị văn hoá mà ở đó thế hệ sau có thể tìm hiểu về cuộc sống trong quá khứ. Qua  lễ hội, người ta biết hội Lim hàng năm được tổ chức  trên núi Lim có Hồng Ân tự, có lăng Quận công Nguyễn Đình Diễn. Hội Tam Giang-Vọng Nguyệt lại gắn với đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt và trận tuyến chống Tống trên dòng Như Nguyệt. Hội chùa Dâu, Bút Tháp lại đưa người ta đi qua các công trình kiến trúc đậm chất Phật giáo, bước dần vào ý đạo theo chu trình tu đạo từ nhận thức đến thực nghiệm tâm linh để đạt tới giác ngộ và giải thoát… Những hội làng khác hầu hết tổ chức tại đình làng, nơi thờ Thành hoàng là những người có công khai ấp, dựng làng, đánh giặc ngoại xâm giữ nước hoặc ông Tổ nghề truyền thống của địa phương.
Rõ ràng, tổ chức lễ hội đúng định hướng là một cách bảo tồn và trao truyền văn hóa. Trong chu kỳ một năm với bao nhọc nhằn, vất vả, lo toan, để rồi khi xuân về, cuộc sống nơi thôn quê lại dập dồn tiếng trống chiêng, người người tụ hội nơi đền, đình, chùa mở hội. Nơi đó, con người hoá thân thành văn hoá, văn hoá thấm đẫm vào con người, cảnh vật tạo nên một bảo tàng sống về đặc trưng văn hoá vùng miền, dân tộc, và qua đó những giá trị đặc sắc lại tiếp tục được hồi sinh, sáng tạo và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Các làn điệu dân ca, các điệu múa dân gian, các hình thức sân khấu chèo, tuồng, rối nước, cải lương...; các trò chơi, trò diễn: đánh cờ người, chọi gà, chơi đu, đánh vật, bơi trải... được sản sinh từ lao động, chống giặc ngoại xâm, từ tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương, đất nước, và chính lễ hội lại là nơi duy trì, phát triển bản sắc, tinh túy văn hóa ấy trong lòng dân tộc suốt hàng nghìn năm qua.
Trong điều kiện xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá hiện nay thì làng xã và lễ hội lại góp phần nhiều hơn trong việc bảo tồn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Hoàng Mai - Vân Giang
 

Monday, April 20, 2015

Đôi nét thêm về Dũng Vi - Blog KYDV

Đôi nét thêm về Dũng Vi
 
Nhằm mục đích tìm hiểu rõ hơn về Dũng Vi. Blog KYDV đã tìm kiếm và tạm đúc kết một số tài liệu có được trên mạng, qua đó có thể thấy rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của Dũng Vi trong chiều dài lịch sử của nước nhà...
 
 "Đình Làng Dũng Vy". Ảnh tư liệu của Kỷ Yếu Dũng Vi.
 
Theo tài liệu "Quá trình thay đổi tên gọi đơn vị hành chính, địa giới hành chính tỉnh Bắc Ninh - Tác giả Nguyễn Quang Khải" đăng trên Bắc Ninh Online. Dũng Vi xưa kia còn được gọi là Tổng Dũng Vi, bao gồm các xã: Dũng Vi, Trung Mầu, Thịnh Lân thuộc huyện Tiên Du. Theo "Đại việt sử ký toàn thư", tên huyện Tiên Du có từ thời nhà Trần (Thế kỷ 13).
 
Địa danh Dũng Vi đã được ghi chép trên "Bắc Ninh tỉnh Tiên Du huyện Dũng Vi tổng các xã thần sắc", mang ký hiệu AD.a7/27 của Viện Nghiên Cứu Hán-Nôm vào khoảng Thế kỷ 17 dưới triều vua Quang Trung và Cảnh Thịnh (còn địa danh Dũng Vi được hình thành từ khi nào thì chưa được rõ)...
 
Từ sau 1954, Dũng Vi đã đổi tên thành xã Tri Phương thuộc huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh. Theo số liệu của Trang mạng ĐCSVN năm 2007. Xã Tri Phương có 7.679 người dân ở 4 thôn: Đinh, Lương, Giáo và Cao Đình.
 
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Xã Tri Phương có diện tích 5,69 km², dân số năm 1999 là 7057 người, [1] mật độ đạt 1240 người/km².
 
Như thế, qua những tài liệu trên đây, chúng ta đã có thể biết rõ hơn về quá trình nhiều thế kỷ hình thành và phát triển của Dũng Vi. Hy vọng tương lai sẽ có thêm những tài liệu giá trị mới.
 
Tháng 2-2015
Blog KYDV
----------

Monday, April 13, 2015

Chùa Phật Tích đón Bằng công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt

Thứ sáu, 27/03/2015 - 09:32
 
Chùa Phật Tích đón Bằng công nhận Di tích Quốc gia đặc biệt
 
Huyện Tiên Du tổ chức Lễ đón Bằng công nhận Quốc gia đặc biệt di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật chùa Phật Tích tại Chùa Phật Tích, xã Phật Tích.
 
Di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật chùa Phật Tích có tên chữ là “Vạn Phúc tự”, tọa lạc tại sườn phía Nam núi Phật Tích (xã Phật Tích, huyện Tiên Du), nổi tiếng là đại danh lam thắng cảnh. Được khởi dựng vào khoảng từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ X và được xây dựng thành đại danh lam vào triều Lý Thánh Tông. Chùa Phật Tích được coi là trung tâm Phật giáo lớn của nước ta. Hiện chùa Phật Tích còn bảo tồn và gìn giữ các di sản như: Hàng linh thú đá 10 con trước cửa Tiền đường; nền móng tháp cổ do vua Lý Thánh Tông xây dựng năm 1057; gần 40 ngôi tháp thờ các vị tổ sư và đặc biệt là Di hài xá lợi của Thiền sư Chuyết Chuyết...
 
Chào mừng Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, chùa Phật Tích được Nhà nước đầu tư, tu bổ, tôn tạo và xây dựng nhiều hạng mục công trình có ý nghĩa như: Đại Phật Tượng bằng đá cao 27m lớn nhất Đông Nam Á; tháp thờ xá lợi Phật... Với những công trình văn hóa tín ngưỡng và nhiều tài liệu, hiện vật cổ có giá trị văn hóa, nghệ thuật đặc sắc. Năm 1962 Chùa được công nhận là di tích lich sử văn hóa quốc gia và năm 2014 Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt cho di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật Chùa Phật Tích.
 
Xuân Trang
 

Những sản vật tiến vua của Bắc Ninh

Thứ sáu, 09/01/2015 - 09:56
 
Những sản vật tiến vua của Bắc Ninh
 
Vùng đất Bắc Ninh trù phú nguồn sản vật. Người Bắc Ninh khéo léo, tài hoa trong việc nuôi trồng và chế biến những sản vật, món ăn ngon nức tiếng, từng là vật phẩm tiến vua.
 
Bánh phu thê Đình Bảng
Bánh phu thê là đặc sản của làng Đình Bảng. Dân gian truyền rằng, vào thời vua Lý Anh Tông đi đánh trận, người vợ ở nhà thương chồng vất vả đã tự tay vào bếp làm bánh gửi ra cho chồng. Vua ăn bánh thấy ngon, nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng nên đặt tên là bánh phu thê (sau này còn có tên gọi là bánh Su Suê - chữ Nôm cổ có nghĩa là vui vẻ). Từ đó, ngoài việc sử dụng là vật phẩm tế Thành hoàng và thưởng thức trong dịp Tết Nguyên đán, hội làng, bánh phu thê còn được người dân trong vùng sử dụng làm lễ vật trong dịp ăn hỏi, ăn cưới của các cặp vợ chồng.
Công thức làm bánh khá đơn giản nhưng không phải nơi nào làm cũng ngon như người dân Đình Bảng. Để làm bánh, nguyên liệu cần có là gạo nếp cái hoa vàng thơm ngon. Gạo này vo sạch, để ráo nước, giã bằng cối rồi lọc lấy tinh bột gạo. Bột lọc đó đem xay thật nhuyễn rồi phơi hoặc sấy khô để qua 15 ngày mới đem ra làm bánh. Màu vàng của bánh được lấy từ tinh chất của quả dành dành. Nhân bánh là đỗ xanh ngâm kỹ, đãi sạch vỏ, kho với đường trộn với sợi dừa cạo nhỏ. Khi ăn, bánh được cắt làm 4 nên trong nhân còn có 4 hạt sen để ở 4 góc bánh.
Gà Hồ
Có một giống gà được coi là quý hiếm, đẹp như một bức tranh, có nhiều người còn nhìn nhận đánh giá nó như một kiệt tác nghệ thuật mà tạo hóa đã ban tặng cho chúng ta. Đó chính là giống gà Hồ ở làng Lạc Thổ (Thuận Thành). Khi con gà trống Hồ trưởng thành hội tụ đủ năm phẩm chất của bậc quân tử: Văn, Vũ, Dũng, Nhân, Tín, nó vừa đẹp mã lại có dáng vẻ của một dũng tướng. Trọng lượng của nó có thể đạt tới 6 đến 6,5 kg. Thịt gà Hồ hồng mà thơm ngon, chắc mà ngọt. Ngày xưa người làng còn đem gà Hồ tiến vua, được coi là giống gà có gia phả hiển hách.
Từ xưa tới nay người dân làng Hồ coi gà Hồ là một loài vật nuôi quý nhất trong gia đình, đã chọn làm lễ vật dâng thành hoàng làng vào ngày hội làng mùng 10-2 (âm lịch) hàng năm. Gà Hồ có những nét đẹp riêng mà các giống gà khác không thể có được “Đầu công, mình cốc, cánh trai”. Đó là câu truyền miệng nhận biết về giống gà Hồ lúc còn là gà con. Khi con gà trống Hồ trưởng thành có cái đầu rất to, vẫn là mình cốc cánh trai, thân hình cân đối cường tráng, vạm vỡ, uy phong đầy sức mạnh.
Nếu ai đã được thưởng thức một miếng thịt gà Hồ thì nhớ mãi không quên. Trải qua bao biến cố thăng trầm của thời gian, giống gà quý hiếm này vẫn được người dân gìn giữ, bảo tồn đến ngày nay.
Rau muống Ngang Nội
Làng Ngang Nội (xã Hiên Vân, Tiên Du) nổi tiếng về đặc sản rau muống “tấn cung”. Người dân Ngang Nội còn truyền kể: Xưa có cô gái ở Hiên Đường (gồm Ngang Nội và Hiên Vân ngày nay) chuyên đi bắt cua. Một hôm, cô gái bắt được đầy giỏ cua trở về làng thì đã giữa trưa. Bấy giờ, cô gái thấy có những bè rau muống ngon liền hái một nắm mang về nấu với cua, ăn thấy rất ngon, vị lạ. Cô gái bắt cua trưởng thành được tuyển vào cung làm Hoàng hậu. Một hôm, vua hỏi Hoàng hậu “Trẫm ăn gì cũng không thấy ngon miệng, chẳng hay ái khanh có món gì cho trẫm ăn ngon được không?” Hoàng hậu đáp: “Khi nhỏ thiếp được ăn một bữa rau muống làng Ngang, đó là món ngon nhất”. Vua nghe vậy liền truyền lệnh cho dân làng Ngang mang nộp rau muống vào cung để vua thưởng thức và thấy vị đậm đà vừa ngon vừa lạ. Rau muống Ngang Nội nổi tiếng từ đó và được người dân gọi là “Rau muống tiến vua”.
Người dân làng Ngang Nội ngày nay vẫn tự hào với loại “rau muống tiến vua” có cuộng dài như dải áo, lá nhỏ, trắng xanh, ăn giòn ngọt. Loại rau này còn có tên là rau dải bởi vì ngọn rau mọc dài như dải áo, nhỏ như chiếc đũa con, rất ít lá. Phía dưới gốc có màu đỏ tía, càng lên ngọn càng trắng và điều đặc biệt là không mọc rễ tua tủa trên thân như rau muống thông thường. Nhưng giống rau muống dải này bây giờ không còn được người dân trồng nữa.
V.Thanh (tổng hợp)